Tìm hiểu về Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)
Cập nhật : 10:34 - 27/11/2018

Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (Regional Comprehensive Economic Partnership – RCEP) là một khuôn khổ đàm phán thương mại tự do được ASEAN khởi xướng gồm 10 nước ASEAN và 6 quốc gia đối tác đã có hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement - FTA) song phương với ASEAN là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand1. RCEP gói gọn hoạt động đối với các nền kinh tế mà ASEAN đã ký kết hiệp định thương mại tự do. Tuy nhiên, trong tương lai, RCEP có thể được mở rộng để kết nạp thêm nhiều quốc gia khác.

Tại Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (East Asian Summit – EAS) ngày 20/11/2012, lãnh đạo 16 quốc gia đã nhất trí khởi động đàm phán RCEP hướng tới mục tiêu đạt được một thỏa thuận liên kết kinh tế hiện đại, toàn diện, chất lượng cao, cùng có lợi, tạo điều kiện mở rộng hơn nữa thương mại và đầu tư trong khu vực, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Các bên đã thống nhất về “Phương châm cơ bản quy định 8 nguyên tắc và 8 lĩnh vực đàm phán.

Tám nguyên tắc gồm:
- Đảm bảo tính nhất quán với các quy định của WTO,
- Cải thiện đáng kể những thành quả của các FTA+1,
- Tạo thuận lợi và đảm bảo tính minh bạch cho thương mại và đầu tư,
- Chú ý đến các nước đang phát triển,
- Duy trì những FTA đã có giữa các nước tham gia,
- Áp dụng điều khoản gia nhập mới,
- Hỗ trợ kinh tế và kỹ thuật cho các nước đang phát triển,
- Thực hiện song song thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và các lĩnh vực khác.

Tám lĩnh vực đàm phán gồm:
- Thương mại hàng hóa,
- Thương mại dịch vụ,
- Đầu tư,
- Hợp tác kinh tế kỹ thuật,
- Quyền sở hữu trí tuệ,
- Chính sách cạnh tranh,
- Giải quyết tranh chấp,
- Mua sắm chính phủ và môi trường (lĩnh vực này đàm phán đang đình trệ do sự phản đối của các nước đang phát triển).

Hiện nay, Hiệp định RCEP đã đi tới vòng đàm phán thứ 17 tại Kobe (Nhật Bản) diễn ra từ 27/2 – 3/3/2017, nhằm thúc đẩy hoàn tất đàm phán trong thời gian sớm nhất. Trong đó có một số lĩnh vực có tiến triển nhanh hơn, nhưng mở cửa thị trường hàng hóa dường như diễn biến chậm nhất, với sự chậm trễ trong cắt giảm thuế quan và chậm dịch chuyển về quy tắc xuất xứ cho phép các doanh nghiệp được hưởng thuế suất ưu đãi trong hiệp định. Những lĩnh vực mà các bên còn nhiều bất đồng bao gồm thương mại điện tử, trong đó Nhật Bản và Australia muốn cho phép dữ liệu di chuyển xuyên biên giới tự do hơn, trong khi Trung Quốc muốn có sự quản lý của nhà nước đối với dữ liệu. Nhật Bản muốn tăng cường bảo vệ tài sản trí tuệ, trong khi Ấn Độ muốn nới lỏng quy chế trong vấn đề này. Sự di chuyển của lao động cũng gây tranh cãi. Ấn Độ muốn lao động trong ngành công nghệ của nước này được ra nước ngoài làm việc nhiều hơn, trong khi ASEAN muốn tập trung bảo vệ việc làm trong nước.

Cho dù RCEP là sáng kiến của khối ASEAN, nhưng lại được sự ủng hộ và đồng tình mạnh mẽ từ phía Nhật Bản và Trung Quốc, đặc biệt là Trung Quốc. Cả Nhật Bản và Trung Quốc muốn sử dụng RCEP để đối trọng với chủ nghĩa bảo hộ ngày càng gia tăng của Mỹ. Chính phủ Trung Quốc đã không e dè khi tuyên bố rằng Trung Quốc sẽ đóng một vai trò quan trọng trong các cuộc đàm phán RCEP. Một mặt, đàm phán FTA của Trung Quốc và ASEAN thường ít tham vọng hơn so với TPP (Trans - Pacific Partnership Agreement - Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương), chỉ thu hẹp chủ yếu trong phạm vi về thương mại hàng hóa và dịch vụ, và có thêm một vài quy định WTO mở rộng. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán được giới hạn trong phạm vi này không thu hút sự ủng hộ của các nền kinh tế phát triển và đang phát triển đã ký kết các FTA song phương với các thành viên RCEP khác. Mặt khác, một yêu cầu đang đặt ra cho RCEP là phải sớm xử lý các vấn đề nhạy cảm và bất đối xứng đang tồn tại giữa các nước tham gia đàm phán, thay vì áp đặt một mẫu mà không phản ánh đầy đủ thực tế vị thế của từng quốc gia2 . Bởi thực tế là, sau hơn 5 năm đàm phán, đến hết tháng 10/2018, Hiệp ước được đề xuất là có 18 gói đàm phán, nhưng hiện chỉ có bốn gói đã đạt được sự đồng thuận 3.
 
Một khi được ký kết đi vào hiệu lực, RCEP sẽ tạo ra một khu vực tự do thương mại liên thông với khoảng 3,4 tỷ người tiêu dùng và quy mô GDP khoảng 49,5 nghìn tỷ USD, chiếm khoảng 39% GDP toàn cầu - lớn hơn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) sau khi Mỹ rút lui4 . Với các cam kết mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, đơn giản hóa thủ tục hải quan và thiết lập quy tắc xuất xứ tạo thuận lợi cho thương mại, giảm thiểu các rào cản thương mại, Hiệp định RCEP được kỳ vọng tạo ra một khu vực thương mại tự do mới có quy mô lớn nhất thế giới, thúc đẩy phát triển các chuỗi giá trị trong khu vực và toàn cầu, giúp thúc đẩy hơn nữa phát triển kinh tế của các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam và các đối tác.

TTBD

Chú thích:
1Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C4%91%E1%BB%8Bnh_%C4%90%E1%BB%91i_t%C3%A1c_Kinh_t%E1%BA%BF_To%C3%A0n_di%E1%BB%87n_Khu_v%E1%BB%B1c
2Nguồn: http://www.hoinhap.org.vn/phan-tich-binh-luan/hoi-nhap-kinh-te-quoc-te/8926-chien-luoc-3-ben-cua-trung-quoc-truoc-hiep-dinh-tpp.html 
3 Nguồn: http://enternews.vn/rcep-se-duoc-hoan-tat-dam-phan-vao-cuoi-nam-nay-137838.html 
4 Nguồn: http://enternews.vn/rcep-se-duoc-hoan-tat-dam-phan-vao-cuoi-nam-nay-137838.html

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK