Những thay đổi trong cách tiếp cận vấn đề khuyết tật trên thế giới
Cập nhật : 10:28 - 27/11/2018


Người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày. Theo DDA (Disability Discrimination Act – Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật do Quốc hội Anh ban hành), khi xét về mặt thời gian tác động thì khiếm khuyết kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài mà ít hơn 12 tháng bình thường không được coi là khuyết tật, trừ phi là bị tái đi tái lại, một số người có khiếm khuyết kéo dài hơn một năm thì vẫn ở trong diện của DDA, cả khi họ sẽ được phục hồi hoàn toàn. Còn Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA - Americans with Disabilities Act of 1990) định nghĩa người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống. Cũng theo ADA những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao và bệnh do HIV(có triệu chứng hoặc không có triệu chứng). Có sự thống nhất tương đối về định nghĩa thế nào là khuyết tật ở các quốc gia khác nhau.

Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap). Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý. Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết. Còn tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ. Còn theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế người khuyết tật, người khuyết tật trở thành tàn tật là do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành viên khác. Do vậy, khuyết tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó người khuyết tật sống.

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, ước tính có khoảng 15% dân số thế giới, tương đương với hơn 1 tỉ người đang sống với ít nhất một dạng khuyết tật nhất định1 . Trong số người khuyết tật. Theo báo cáo của WHO và Ngân hàng thế giới, người khuyết tật có các chỉ số phát triển thấp hơn người không khuyết tật do không được tiếp cận các dịch vụ cơ bản và do bị kỳ thị. Khoảng 80% dân số người khuyết tật hiện đang sống ở các nước đang phát triển và phần lớn trong số họ không tiếp cận được các thành tựu phát triển thiên niên kỷ2.  Nhóm dân cư này cũng có tình trạng sức khỏe kém hơn, có kết quả học tập thấp hơn, ít được tham gia vào các hoạt động kinh tế hơn so với người không có khuyết tật.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên phải kể đến việc người khuyết tật không tiếp cận được các dịch vụ cơ bản mà nhiều người không có khuyết tật mặc nhiên được tiếp cận như thông tin, chăm sóc y tế, giáo dục, cơ hội làm việc và sử dụng các phương tiện giao thông đi lại. Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng nhất là thái độ kỳ thị mà người khuyết tật nhận được, vì nó được xem là nhân tố gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc người khuyết tật có thể tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và việc làm.

Trong những năm gần đây, chủ đề khuyết tật đã được đưa vào các chương trình phát triển thế giới từ góc độ nhân quyền và từ góc độ phát triển. Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của người khuyết tật (The Convention on the Rights of Persons with Disabilities – CRPD) được thông qua năm 2006. Công ước có mục tiêu “khuyến khích, bảo vệ và đảm bảo nhân quyền và những quyền tự do cơ bản cho tất cả người khuyết tật; và thúc đẩy sự trọng phẩm giá cho người khuyết tật (Điều 1). Công ước cũng nêu rõ “Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tinh thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau trong xã hội, những khuyết điểm này có thể hạn chế sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ vào các hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác” (Điều 1)3 .

Ngoài Công ước nêu trên, các chương trình phát triển cũng tiếp cận vấn đề khuyết tật. Báo cáo Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ xuất bản năm 2010 của Liên hợp quốc đã gắn khuyết tật đến tình trạng thiếu cơ hội tiếp cận giáo dục. Từ ghi nhận này, năm 2010, Đại hội đồng Liên hợp quốc đưa giáo dục cho trẻ khuyết tật vào Mục tiêu 2 của Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ4 . Các vấn đề và mục tiêu riêng cho người khuyết tật cũng được đề cập cụ thể trong văn bản “Thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ cho người khuyết tật từ và sau năm 2015” nhằm giúp người có khuyết tật có cơ hội được hưởng lợi từ việc đạt được các mục tiêu phát triển.

Cho đến nay, đã có 5 Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và phát triển bền vững trực tiếp đưa vấn đề khuyết tật vào giáo dục (Mục tiêu 4), phát triển kinh tế (Mục tiêu 8), tăng cường sự tham gia vào các vấn đề xã hội, kinh tế và chính trị (Mục tiêu 10), quyền được tiếp cận các phương tiện đi lại và nơi công cộng (Mục tiêu 11), và thu thập các thông tin có chất lượng để theo dõi tiến độ của các Mục tiêu phát triển bền vững theo phân loại khuyết tật (Mục tiêu 17) theo Chương trình nghị sự 2030.5 

Những thay đổi nêu trên cho thấy sự chuyển đổi cách làm việc với người khuyết tật - chú trọng đến đảm bảo quyền của người khuyết tật trong tiếp cận các dịch vụ hay hỗ trợ cần thiết trong cuộc sống của họ. Quan điểm này thay thế cho quan điểm cũ xem người khuyết tật là đối tượng nhận trợ cấp, điều trị y tế hay bảo trợ xã hội. Theo cách tiếp cận quyền, người khuyết tật được xem là chủ thể với các quyền như các công dân khác trong xã hội. Các quyền của họ cần được tôn trọng và bảo đảm. Do vậy, cần có chính sách và chương trình thích hợp để người khuyết tật có thể tham gia bình đẳng và đầy đủ vào xã hội.

TTBD

Chú thích:
1 WHO. 2017. Disability and Health: Fact Sheet.
2 UNDP. 2017. Disability: Inclusive Development
3 UN. 2006. Convention on the Rights of Persons with Disabilities.
4 UN. 2011. Disability and the Millennium Development Goals: A review of MDG process and strategies for Inclusion of Disability Issues in Millennium Development Goals Efforts. New York.
5 UN. 2017. Sustainable Development Goals and Disability.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK