Những kết quả thu được qua chuyến nghiên cứu và học tập kinh nghiệm tại Italia
Cập nhật : 17:20 - 02/11/2018
Từ ngày 20-26/9/2018, Đoàn Ban Công tác đại biểu do đ/c Nguyễn Tuấn Anh, Phó Trưởng Ban làm trưởng đoàn đã đi thăm và làm việc tại Italia.  Đoàn đã chào xã giao Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện Italia Vito Rosanriso Petrocelli; Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Hạ Viện bà Maria Grande, Phó phòng Hợp tác Quốc tế của Hạ Viện bà Fabrizia Bientinesi. Đoàn đã có buổi làm việc chính thức với Chủ nhiệm Văn phòng Thượng viện Italia Edoaro Sassioli; Cố vấn Ủy ban Tư pháp của Thượng viện Italia Paolo Cacopardo; Cố vấn Hội đồng cố vấn về quyền miễn trừ của Thượng viện Italia Alessandro Perrome; Chủ tịch Hội đồng TP Milan Lamberto Bertole; Cố vấn danh dự Việt Nam tại Turin - Sandra Scagliotti; Chủ tịch Phòng thương mại Italia - Việt Nam Fulvio Alabino... để trao đổi về các nội dung mà đoàn quan tâm. 

Nội dung trao đổi chủ yếu liên quan đến quy trình bầu cử nghị sĩ và đại biểu Hội đồng thành phố, chế độ chính sách đối với nghị sĩ, quy trình xem xét, thông qua dự án luật, đề xuất bỏ phiếu tín nhiệm Chính phủ, giám sát hoạt động Chính phủ của nghị sĩ, phía bạn còn bày tỏ mong muốn hợp tác trong ngành năng lượng, đặc biệt là năng lượng tái tạo.

Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu về Quốc hội Italia đoàn công tác đã thu được qua các cuộc làm việc.

a. Vài nét về Cộng hòa Italia và Nghị viện Italia
Cộng hòa Italia nằm ở phía Nam Châu Âu với diện tích 301.338 km22,  quy mô dân số 61 triệu người1, thu nhập quốc dân (GDP) đạt 2.213 tỷ USD3 năm 2016 , GDP bình quân đầu người đạt 36.191 USD . Là nền kinh tế đứng thứ 8 trên thế giới4 , Italia là một trong 6 nước châu Âu sáng lập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC), nay là liên minh châu Âu (EU). Nền kinh tế Italia đa dạng với nhiều ngành công nghiệp, tuy nhiên ngành công nghiệp Italia phải nhập đến 75% nguyên liệu từ nước ngoài. Italia có mô hình phát triển kinh tế khá gần gũi với Việt Nam, với hệ thống các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất năng động và hiệu quả, đóng góp tới gần 2/3 GDP. 

Về thể chế nhà nước, Italia là nước theo thể chế Cộng hòa Nghị viện. Tổng thống là nguyên thủ quốc gia do hai viện Quốc hội và 58 đại diện vùng bầu ra, có nhiệm kỳ 7 năm.

Quyền lập pháp thuộc về nghị viện bao gồm các cơ quan Thượng viện và Hạ viện có chức năng và quyền hạn tương đương nhau5 . Lưỡng viện Italia có nhiệm kỳ 5 năm. Thượng viện hiện nay có 315 thành viên đại diện cho các khu vực và do các cử tri từ 25 tuổi trở lên bầu (trong đó 5 thành viên là các thượng nghị sĩ được chỉ định suốt đời). Hạ viện có 630 thành viên được các cử tri từ 18 tuổi trở lên bầu ra. 

Đứng đầu cơ quan hành pháp là Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm và được Quốc hội thông qua.

b. Về quy trình xây dựng luật
 Hiến Pháp Italia quy định chức năng lập pháp sẽ được thực hiện bởi cả 2 viện (Thượng viện và Hạ viện). Do đó, để một dự thảo luật trở thành luật phải được chấp thuận bởi cả 2 Viện. Thủ tục lập pháp được chia thành nhiều giai đoạn liên tiếp, cụ thể như sau:
- Giới thiệu dự luật (sáng kiến lập pháp) tại một trong 2 viện6
Đối tượng có quyền đưa ra sáng kiến pháp luật tại Italia gồm: Nghị sỹ, Chính phủ và người dân, tuy nhiên dự án Luật do người dân chủ trì muốn được trình lên Quốc hội xem xét thì phải cần có đủ 50.000 chữ ký ủng hộ. Do việc thu thập đủ 50.000 chữ ký rất khó nên những năm gần đây, các sáng kiến pháp luật thường do bên Chính phủ hoặc Nghị sỹ đề xuất.
- Tại viện này, dự thảo Luật được thẩm tra bởi Ủy ban phụ trách có liên quan đến nội dung điều Luật đề cập; được thảo luận (sau đó sửa đổi và được chấp thuận hoặc bác bỏ)
- Nếu được chấp thuận, dự thảo luật sẽ được chuyển sang cho ý kiến tại Viện còn lại. Một dự án luật có thể bị sửa đổi nhiều lần và có thể bị chuyển từ Viện này sang Viện khác cho đến khi được cả 2 Viện thống nhất. Dự án luật khi thông qua phải có sự hiện diện của ba đại diện từ Thượng viện, Hạ viện và Chính phủ.
- Sau khi có sự thống nhất từ 2 Viện thì dự án luật sẽ được trình lên Tổng thống để chứng nhận công bố trong vòng 1 tháng,  sau đó dự án luật được ban hành bởi Bộ Tư pháp và sau 15 ngày kể từ ngày ban hành Luật có hiệu lực thi hành. (Tổng thống là người có quyền đề nghị Quốc hội xem xét lại dự thảo luật).

c. Về hoạt động hướng dẫn, giám sát Chính phủ
Sự hình thành Chính phủ: Tổng thống Italia chỉ định Thủ tướng và thành viên Chính phủ. Trước khi cả 2 Viện xem xét Người đứng đầu Chính phủ có đủ tư cách thành lập Chính phủ hay không (bằng cách lấy phiếu tín nhiệm), Thủ tướng sẽ trình bày kế hoạch hành động và kế hoạch này sẽ được thảo luận bởi cả 2 Viện. 

Thủ tướng được bầu gián tiếp hoặc trực tiếp ở cả 2 Viện bằng phiếu đồng thuận hay không đồng thuận (được tổ chức 2 ngày họp khác nhau). 

Nếu Tờ trình nhân sự Chính phủ được thông qua tại cả 2 Viện thì Chính phủ mới chính thức đi vào hoạt động.

Tuy nhiên, trong suốt nhiệm kỳ hoạt động của Chính phủ, Nghị sỹ có quyền đề xuất lấy phiếu tín nhiệm Chính phủ một lần nữa khi có 1 nhóm 10% số Nghị sỹ ở từng Viện (ít nhất 30 Nghị sỹ ở Thượng viện hoặc 60 Nghị sỹ ở Hạ viện) đề xuất lý do muốn lấy phiếu tín nhiệm Chính phủ một lần nữa. Nhanh nhất sau 3 ngày kể từ ngày có Tờ trình Nghị viện sẽ họp để xem xét việc có lấy phiếu lần nữa hay không. Nếu tán thành, tất cả Chính phủ dừng hoạt động và Nghị viện bỏ phiếu tín nhiệm toàn bộ Chính phủ. Tổng thống sẽ là người quyết định chỉ định một vị Thủ tướng mới hoặc giải tán Quốc hội.

Ngoài ra còn có các hoạt động khác giám sát Chính phủ như là thành lập các Ban giám sát hoạt động của Chính phủ và báo cáo giám sát trình lên Nghị viện. Vào thứ 5 hàng tuần, các thành viên Chính phủ có mặt ở Thượng viện để giải trình trước Nghị viện và tất cả quá trình này sẽ được phát sóng trực tiếp trên truyền hình. Không có hệ quả đối với thành viên Chính phủ khi câu trả lời của họ không đáp ứng yêu cầu của Nghị sỹ, tuy nhiên họ phải chịu trách nhiệm truyền thông trước nhân dân.

d. Về Chế độ chính sách đối với Nghị sỹ: 
Chế độ hỗ trợ đối với Nghị sỹ được quy định trong Điều 69, Hiến pháp năm 1948. Hiến pháp quy định mức cao nhất có thể nhận được của mỗi Nghị sỹ. Chính sách tiền lương đối với Nghị sỹ của 2 Viện tương đương nhau.

Chính sách tiền lương dành cho Nghị sỹ gồm: Tiền lương + phụ cấp chức vụ + Chi phí công tác.

Theo Hiến pháp Italia năm 1975 thì chế độ dành cho Nghị sỹ tương đương chế độ của Thẩm phán của Tòa án tối cao. Mức chi trả cho Nghị sỹ khá cao để đảm bảo cho Nghị sỹ có một cuộc sống đầy đủ không ảnh hưởng về mặt kinh tế. Tuy nhiên, trong vòng 10, 15 năm nay chế độ chính sách của Nghị sỹ đã có phần giảm đi, do ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế diễn ra tại toàn Châu Âu và người dân đã phản ánh chế độ ưu đãi dành cho Nghị sỹ là quá cao7

Về khoản chi phí công tác, ăn ở là khoản cố định cho các Nghị sỹ không sinh sống tại Roma và được tính theo ngày mà Nghị sỹ có mặt tại Quốc hội. Chi phí công tác cao nhất được khoảng 3500euro/ tháng/ Nghị sỹ. 

Nếu đại biểu Quốc hội phải đến 1 địa điểm khác công tác thì được nhận một khoản chi phí công tác khác, khoảng 2800 euro/ tháng sau thuế (đây là khoản cố định), ngoài ra có thể được nhận thêm 2800 euro nữa nếu Nghị sỹ giải trình được lý do, chi tiêu của mình trong khoảng thời gian đó. Việc chi trả lương hưu của nguyên Nghị sỹ do nguồn của Nghị viện chi trả. Đây là vấn đề hiện đang được thảo luận rất gay gắt trên diễn đàn Nghị viện do thiếu nguồn chi trả.

e. Về quyền miễn trừ của đại biểu Quốc hội
Pháp luật Italia quy định khi Nghị sỹ vi phạm pháp luật mà bản án cuối cùng8  yêu cầu phải bắt, tạm giam, tịch thu tài sản thì bên cơ quan Tư pháp cần có văn bản xin phép Chủ tịch Thượng viện hoặc Hạ viện nơi mà Nghị sỹ đang công tác.

Văn bản xin phép được chuyển tới Hội đồng cố vấn về quyền miễn trừ biểu quyết có chấp thuận đơn yêu cầu đối với Nghị sỹ hay không.

Quyết định của Hội đồng cố vấn sẽ tiếp tục được đưa ra toàn Viện biểu quyết xem có thông qua Quyết định này hay không.

Hội đồng cố vấn do Chủ tịch các Viện chỉ định thành lập, dựa trên tỷ lệ % các nhóm trong Viện, nhóm nào có tỷ lệ % lớn sẽ có nhiều đại diện hơn các nhóm khác, hoạt động cố định trong nhiệm kỳ và gồm có 23 thành viên. Thành viên Hội đồng cố vấn có thể là thành viên của Ủy ban. Chủ tịch Hội đồng cố vấn được bầu trong nhóm ít đại diện hơn.

Quyền miễn trừ của Nghị sỹ chỉ có hiệu lực trong nhiệm kỳ, đây là quyền đảm bảo cho Nghị sỹ được tự do đưa ra mọi ý kiến của mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

f. Về quy trình bầu cử Quốc hội
Luật Bầu cử ở Italia quy định cơ chế bầu cử hỗn hợp, theo đó 37% số ghế (tương đương 232 ghế ở Hạ Viện và 116 ghế ở Thượng viện) được bầu theo quy tắc đa số; 61% (tương đương 386 ghế ở Hạ Viện và 193 ghế ở Thượng viện) được bầu theo quy tắc tỷ lệ và 2% số ghế còn lại (tương đương 12 ghế ở Hạ Viện và 6 ghế ở Thượng viện) được bầu theo quy tắc tỷ lệ của người Italia định cư ở nước ngoài. Cách thức bầu cử đối với người Italia định cư ở nước ngoài do Phòng bầu cử ở nước ngoài phụ trách với sự kết hợp giữa Bộ Nội vụ, Bộ ngoại giao và Sứ quán ở nước sở tại.
Mỗi đảng phải đạt ít nhất 3% và liên minh phải đạt được 10% số phiếu để có ghế tại hai Viện.

Cơ quan phụ trách tổ chức bầu cử ở Italia do Bộ Nội vụ đảm nhiệm.

g. Về công tác giám sát sau quá trình bầu cử
Khác với các nước khác, việc kiểm tra kết quả bầu cử do bên Tư pháp thực hiện, ở Italia kết quả bầu cử của Viện nào thì Viện đó sẽ giám sát và Hội đồng cố vấn ở mỗi Viện là cơ quan có trách nhiệm giám sát, kiểm tra kết quả bầu cử.

Nội dung: Khi nhận được đơn yêu cầu khiếu nại kết quả bầu cử (thường đến từ ứng cử viên không trúng cử hoặc cử tri cho rằng kết quả không chính xác), Hội đồng cố vấn sẽ điều tra điểm bầu cử.

Hội đồng cố vấn có quyền đưa ra quyết định chấp nhận  kết quả bầu cử đó hay phải bầu cử lại.

Thời hiệu giải quyết khiếu nại: Đơn khiếu nại chỉ được phép xem xét trong vòng 20 ngày sau khi kết quả bầu cử được phê chuẩn, sau 20 ngày Nghị viện sẽ không giải quyết khiếu nại. Luật không quy định thời hạn tối đa giải quyết khiếu nại, nhưng thông thường việc giải quyết khiếu nại có thể kéo dài đến 18 tháng.

h. Hội đồng thành phố Milan 
Năm 1993, người dân Italia thực hiện bầu cử trực tiếp Thị trưởng thành phố qua 2 vòng. Vòng 1 để chọn ra 2 ứng cử viên có số phiếu cao nhất. Vòng 2 sẽ bỏ phiếu kín để chọn ra Thị trưởng thành phố. Sau vòng bầu cử trực tiếp từ nhân dân địa phương, đến vòng bỏ phiếu của Hội đồng thành phố, ứng cử viên trúng cử khi đạt 60% số phiếu từ Hội đồng thành phố.

Hội đồng thành phố Milan gồm có 48 Ủy viên và 29 Nghị sỹ. Nhiệm kỳ của Thị trưởng: 5 năm, tối đa 2 nhiệm kỳ kéo dài 10 năm.

Mỗi vị Thị trưởng có 12 thư ký đại diện, gồm 6 nam, 6 nữ.

Thành phố Milan được chia thành 9 khu vực, mỗi khu vực có 1 Trưởng khu vực và 1 Chủ tịch Hội đồng khu vực.

Milan có văn bản quy định chức năng nhiệm vụ của Ủy viên đại diện cho nhân dân địa phương. Hội đồng thành phố có nhiệm vụ giám sát và giúp nhân dân thi hành pháp luật. Thành viên Hội đồng thành phố có nhiệm vụ phát triển và xây dựng pháp luật của địa phương. Hội đồng thành phố sẽ họp toàn thể vào thứ 2, thứ 5 hàng tuần, những ngày còn lại làm việc tại Ủy ban về các nội dung liên quan đến phát triển quy hoạch đô thị, xây dựng hạ tầng cơ sở.

Ủy viên Hội đồng thành phố là kiêm nhiệm, do đó chỉ làm việc ½ ngày và không được chi trả lương, nhưng sẽ được quy đổi để tiêu dùng, mua sắm trong thành phố./.

TTBD

Chú thích:
 1 Theo cơ quan thống kê Italia tháng 7/2015
 2 Đứng thứ 12 thế giới
 3 Đứng thứ 31 thế giới
 4 Sau Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Đức, Anh, Pháp, Ấn Độ (Theo thống kê 2016 của IMF và World Bank) 
 5 Quốc hội Italia được xem là một trường hợp hiếm vì hai viện có vị trí và vai trò ngang nhau. 
 6 Ở Italia 4 chủ thể có quyền trình dự án Luật gồm: Chính phủ, Đại biểu quốc hội, người dân - người có quyền bầu cử, Hội đồng quốc gia về kinh tế và lao động (CNEL) và Hội đồng khu vực.
 7 Mức lương trước thuế của Nghị sỹ là 10.380 euro/tháng - 8,8% tiền lương nộp Ngân sách Thượng viện hoặc Hạ viện - Quỹ lương hưu - Quỹ Y tế - Các khoản thuế khác  = 5000 euro/tháng (mức lương sau thuế của mỗi Nghị sỹ).
 8 Bản án cuối cùng đã qua 3 cấp độ xét xử: sơ thẩm, thứ thẩm, cấp cao.



 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK