Các tiêu chuẩn quốc tế về tự do hiệp hội
Cập nhật : 15:19 - 25/10/2018

Chính vì tầm quan trọng của tự do hiệp hội mà quyền này được ghi nhận và bảo vệ trong rất nhiều văn kiện pháp lý quốc tế như Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (UDHR,1948 – Điều 20), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1966 – Điều 22), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR, 1966 – Điều 8), Công ước về xóa bỏ hình thức phân biệt đối xử về chủng tộc (ICERD, 1965 – Điều 5(ix)), Công ước về xóa bỏ hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW, 1979 – Điều 7), Công ước về quyền trẻ em (CRC, 1989 – Điều 15), Công ước quốc tế về bảo vệ các quyền của tất cả nguời lao động di trú và các thành viên gia đình họ (CRMW, 1990 – Điều 26), Công ước về quyền của người khuyết tật (CRPD, 2006 – Điều 29), Tuyên ngôn về những người bảo vệ nhân quyền (1998 – Điều 5), Công ước ILO số 87 về Tự do hiệp hội và Bảo vệ quyền được tổ chức (CO87, 1948 – các điều 1-11), Công ước ILO số 98 về Quyền tổ chức và đàm phán tập thể (CO98, 1949 – các điều 1-6), Công ước ILO số 135 về những địa diện của người lao động (C135, 1971).

Ngoài ra, tự do hiệp hội cũng được quy định trong các văn kiện pháp lý khu vực, ví dụ như Hiến chương Châu Phi về quyền con người và quyền của các dân tộc (Điều 10), Hiến chương châu Phi về quyền và phúc lợi của trẻ em (Điều 8), Tuyên ngôn châu Mỹ về các quyền và nghĩa vụ của con người (Điều 22), Công ước nhân quyền châu Mỹ (Điều 16), Công ước nhân quyền châu Âu (Điều 11), Hiến chương Liên minh châu Âu về các quyền cơ bản (Điều 12).
Những văn kiện pháp lý quốc tế và khu vực nêu trên bảo vệ quyền tự do hội họp theo 3 cấu thành cơ bản: 
- Quyền thành lập hội
- Quyền gia nhập hội
- Quyền tham gia, điều hành hoạt động của các hội

Tuy nhiên, sự bảo vệ này chỉ áp dụng với các nhóm hình thành vì mục đích công, còn các nhóm vì lợi ích tư, chẳng hạn nhóm gia đình, được bảo vệ bởi Điều 17 ICCPR¹. Các nội dung chính về bảo vệ tự do hiệp hội được quy định như sau:

a. Về quyền thành lập và gia nhập hội
Về chủ thể quyền lực, Điều 22 ICCPR ghi nhận tất cả mọi người đều được hưởng quyền tự do hội họp. Điều đó có nghĩa là chủ thể của quyền này không bị giới hạn ở công dân, mà còn bao gồm cả người nước ngoài và người không quốc tịch đang sinh sống hợp pháp ở một quốc gia. Cách hiểu này tương thích với quy định của Điều 2 ICCPR (về không phân biệt đối xử) và được khẳng định trong các Nghị quyết 15/21, 21/16, 24/5, 20/27, 26/29 của Hội đồng nhân quyền Liên Hợp quốc. Ví dụ, Nghị quyết 24/5 nhắc nhở các quốc gia về nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ quyền của tất cả các cá nhân được tụ họp ôn hòa và liên kết tự do trên mạng Internet cũng như ngoài đời thực, kể cả trong các bối cảnh bầu cử. Trong khi đó, Nghị quyết 20/27, 26/29 nêu rõ, luật pháp của các quốc gia không nên áp đặt bất cứ giới hạn cụ thể nào đối với các cá nhân, bao gồm trẻ em, người nước ngoài, các nhóm thiểu số về ngôn ngữ hoặc sắc tộc, các cá nhân đồng giới, song giới, chuyển giới, lưỡng giới, phụ nữ trong việc hưởng các quyền tự do hội họp. Ngoài ra, quyền tự do hội họp cũng cần mở rộng cho chính bản thân các tổ chức hợp pháp (ví dụ 2 hội quyết định lập thành một mạng lưới tổ chức).

Cũng theo luật quốc tế, quyền thành lập và gia nhập hội bao hàm cả quyền thành lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của người lao động². Mọi người lao động và người sử dụng lao động đều có quyền thành lập và gia nhập các tổ chức do họ tự lựa chọn mà không phải xin phép trước³.

Về thủ tục thành lập hội, quyền tự do hiệp hội bảo vệ các hội một cách công bằng, không phân biệt hội có hay không đăng ký thành lập. Các cá nhân tham gia các hội không đăng ký cũng được tự do tiến hành bất cứ hoạt động hợp pháp nào, bao gồm quyền tổ chức và tham gia các cuộc tập hợp/ tụ hợp một cách ôn hòa, và không bị coi là các hành vi phạm tội theo pháp luật hình sự.

Theo Hội đồng nhân quyền Liên Hợp quốc, các quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ đầy đủ quyền tự do hội họp trong cả đời sống thực tế cũng như trên mạng trực tuyến. Mạng Internet, đặc biệt là các trang mạng xã hội, và các công nghệ thông tin truyền thông khác là những công cụ quan trọng hỗ trợ quyền tự do hội họp trong đời thực, và mọi người đều có quyền liên kết trong các không gian ảo, tập hợp trong môi trường mạng trực tuyến để bày tỏ ý kiến của mình.

Tất cả các quốc gia cần bảo đảm việc tiếp cận internet được duy trì mọi lúc, kể cả khi có bất ổn chính tri, mọi ý định chắn các thông tin trực tuyến cần phải được tiến hành bởi cơ quan tue pháp có thẩm quyền, hoặc một cơ quan độc lập với bất cứ ảnh hưởng chính trị, thương mại hoặc các ảnh hưởng không thích đáng nào khác.

b. Về quyền vủa hội được hoạt động tự do và được bảo vệ khỏi sự can thiệp phi lý.
Theo luật nhân quyền quốc tế, các Nhà nước có nghĩa vụ không can thiệp tùy tiện vào công việc nội bộ và phải tôn trọng quyền riêng tư của các hội như đa quy định tại Điều 17 ICCPR. Cụ thể, các nhà nước không được tùy tiện đặt điều kiện cho những quyết định và hoạt động của hội; đảo ngược kết quả bầu cử thành viên ban lãnh đạo; bắt buộc trong ban lãnh đạo của các hội phải có sự hiện diện của đại diện chính phủ; yêu cầu các hội nộp báo cáo trước khi xuất bản ấn phẩm hoặc nộp kế hoạch hoạt động để thông qua trước. Các cơ quan độc lập do Nhà nước lập ra có quyền xem xét báo cáo của các hội như là một cơ chế bảo đảm sự minh bạch và trách nhiệm giải trình, nhưng một thủ tục như vậy không được mang tính chất tùy tiện và phải tôn trọng nguyên tắc không phân biệt đối xử và quyền riêng tư của các hội.

Luật nhân quyền quốc tế cũng ấn định nghĩa vụ của các nhà nước phải thúc đẩy quyền tự do hội họp thông qua việc tiến hành các biện pháp tích cực để thiết lập và duy trì môi trường thuận lợi cho hoạt động của các hội. Các quốc gia cũng có nghĩa vụ ngăn chặn những hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hành quyền tự do hội họp.

c. Về việc hạn chế quyền tự do hiệp hội
Theo luật nhân quyền quốc tế, ở Điều 29 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền (UDHR, 1948) và Điều 22 ICCPR quyền tự do hiệp hội chỉ có thể bị hạn chế bằng pháp luật khi cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, hay để bảo vệ sức khỏe hoặc đạp đức của công chúng hoặc các quyền và tự do của  người khác. Đặc biệt, các Nhà nước có thể hạn chế hợp pháp quyền này với những người thuộc các lực lượng vũ trang và cảnh sát.

Cũng theo luật nhân quyền quốc tế, các hạn chế áp đặt với quyền này phải được quy định rõ ràng trong luật và phải chứng minh được đó là sự cần thiết trong một xã hội dân chủ, thể hiện ở việc sự hạn chế đó có mức độ tương xứng đối với mọi lợi ích cần bảo vệ và là cách thức can thiệp tối thiểu để đạt được mục tiêu là bảo vệ lợi ích đó. Chỉ nên đình chỉ hoạt động hay buộc giải thể một hội khi hội đó vi phạm nghiệm trọng pháp luật quốc gia mà tạo ra mối nguy hiểm rõ ràng, sắp xảy ra, với những lợi ích được bảo vệ theo như quy định của luật nhân quyền quốc tế.

d. Về nguyên tắc bình đẳng trong tự do hiệp hội
Bình đẳng là nguyên tắc cơ bản của mọi quyền con người. Bên cạnh các nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thực thi quyền tự do hội họp, các Nhà nước còn có nghĩa vụ đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể trong việc tự do thành lập và hoạt động của hội.

Chẳng hạn, các quốc gia cần đối xử công bằng giữa các hội và các doanh nghiệp, thể hiện ở việc không có những yêu cầu, thủ tục phiền hà, bất tương xứng hoặc tạo gánh nặng cho các hội so với các doanh nghiệp. Việc đăng ký thành lập một hội không nên quá khó khăn hoặc quá tốn thời gian so với việc đăng ký của một doanh nghiệp hoạt động mục tiêu lợi nhuận.

TTBD

Chú thích:
¹ Sarah Joseph, ICCPR: Cases, Materials and Commentary, NXB ĐH Oxford, 2004, tr. 575. Dẫn theo Lã Khánh Tùng, Nghiêm Hoa, Vũ Công Giao trong Hội và Tự do hiệp hội, NXB Hồng Đức, 2015, trang 18.
² Điều 22 ICCPR, Điều 8 ICESCR.
³ Điều 2 Công ước ILO số 87 về quyền tự do hiệp hội và bảo vệ quyền tổ chức, 1948.

Tham khảo:
PGS.TS Vũ Công Giao (chủ biên), “Bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp 2013: Lý luận và thực tiễn”, NXB Hồng Đức, 7/2016

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK