KINH NGHIỆM TRONG KIỂM SOÁT HÀNH CHÍNH CÔNG Ở ĐỨC VÀ TRUNG QUỐC
Cập nhật : 15:12 - 25/10/2018

Hiện nay Việt Nam đang xây dựng Luật Hành chính công – Một Dự án Luật thu hút nhiều sự quan tâm của xã hội. Trong các nội dung lớn của Dự thảo Luật, vấn đề kiểm soát hành chính công từ phía công dân, xã hội được nhiều người kỳ vọng sẽ góp phần quan trọng hoàn thiện pháp lý, phương thức kiểm soát hành chính công, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, chạy chức quyền, sai phạm trong công tác cán bộ... như thời gian qua. Việc nghiên cứu kinh nghiệm kiểm soát hành chính công của một số nước trên thế giới từ phía công dân, xã hội, báo chí sẽ cho thấy những giá trị có thể tham khảo ở Việt Nam cũng như trong xây dựng Luật Hành chính công. Bài viết này sẽ tìm hiểu kinh nghiệm kiểm soát hành chính công của Cộng hòa Liên bang Đức - một đại diện tiêu biểu từ châu Âu, và của Trung Quốc – nước láng giềng lớn có những ảnh hưởng chính sách lớn đến Việt Nam.

1. Kiểm soát hành chính công ở Cộng hòa Liên Bang Đức 
Cộng hòa Liên bang Đức lấy học thuyết “tam quyền phân lập” làm căn bản để tổ chức quyền lực nhà nước, tuy có những cách thức áp dụng thực tế khác so với “tam quyền phân lập” của Mỹ. Tổng thống liên bang đại diện cho liên bang về mặt công pháp quốc tế, do Hội nghị liên bang bầu ra theo nhiệm kỳ 5 năm và theo đa số tuyệt đối. Theo đề nghị của Tổng thống liên bang, Nghị viện bầu Thủ tướng liên bang theo nguyên tắc đa số. Thủ tướng liên bang quyết định về đường lối chính trị. Thủ tướng liên bang chỉ có thể bị bãi chức thông qua “biểu quyết bất tín nhiệm có tính xây dựng”, nghĩa là khi mà Nghị viện cũng đồng thời bầu luôn ra một Thủ tướng mới theo nguyên tắc đa số. Như vậy, cử tri là đối tượng đầu tiên, trực tiếp tạo dựng nên nhà nước thông qua các chế định về bầu cử nên họ là đối tượng cần tranh thủ của các đảng phái chính trị ở các nước có mô hình đa đảng như Cộng hòa liên bang Đức. 

Với các nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước như đã đề cập, Cộng hòa liên bang Đức quản lý xã hội bằng pháp luật với đặc trưng là công khai và dân chủ. Đặc điểm này giúp cho cử tri – công dân có thể giám sát, phê bình, chỉ trích nhà nước một cách công khai dân chủ thậm chí có thể phản kháng (như biểu tình phản đối hoặc gây ra một số vụ xung đột nhỏ). Pháp luật Cộng hòa liên bang Đức quy định những quyền tự do của công dân trong đó có những quyền giám sát và phản biện đối với nhà nước như quyền bầu cử và bãi nhiệm đại biểu dân cử, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền chất vấn đại biểu dân cử, quyền được trưng cầu ý kiến,… Trong các quyền trên, đặc biệt phải kể đến quyền được trưng cầu ý kiến. Hiến pháp Đức quy định trước khi Thủ tướng hay Nghị viện bỏ phiếu thông qua một số vấn đề nhất định hoặc đã thông qua nhưng trước khi vấn đề đó có hiệu lực thì phải có ý kiến biểu quyết của cử tri cả nước (hoặc vùng lãnh thổ đối với quyết định hội đồng địa phương). 

2. Kiểm soát hành chính công ở Trung Quốc 
Trong bối cảnh xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, để đảm bảo quyền kiểm soát của công dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nhà nước nói riêng, Trung Quốc nhấn mạnh “kiên trì và hoàn thiện chế độ Đại hội đại biểu nhân dân, bảo đảm cho Đại hội đại biểu nhân dân và Ủy ban thường vụ của nó thực thi chức năng theo luật định, bảo đảm lập pháp và quyết sách thể hiện tốt hơn ý chí của nhân dân”. Chế độ bầu cử là một phần quan trọng bảo đảm về tổ chức cho chế định Đại hội đại biểu nhân dân ở Trung Quốc. Từ năm 1982 tới năm 1986, và đến năm 1995, Trung Quốc đã tiến hành cải cách cũng như hoàn thiện chế độ bầu cử. Qua các lần cải cách bầu cử, phạm vi bầu cử trực tiếp đại biểu vào Đại hội đại biểu nhân dân được mở rộng tới cấp huyện. Đồng thời, việc bầu cử được thực hiện có cạnh tranh và bầu cử có số dư, tức từ hai hay ba ứng viên chọn ra một ứng viên đắc cử. Cần nói thêm rằng, chế định kiểm soát của công dân đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở Trung Quốc là một khái niệm bao gồm nhiều nội dung, ở nhiều lĩnh vực. Trong đó, các chủ thể đại diện cho công dân thực hiện quyền giám sát được đề cao là Đại hội đại biểu nhân dân (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp), Chính Hiệp (giống như Mặt trận Tổ quốc ở Việt Nam). 

Một thành tựu ở Trung Quốc trong việc đảm bảo khả năng kiểm soát của công dân đối hành chính công là đã xây dựng được một hệ thống các văn bản về công khai thông tin hoạt động của Chính phủ, các Bộ ngành, cơ quan hành chính các cấp, trong đó hình mẫu là văn bản “Điều lệ công khai tin tức Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”. Văn bản này được Hội nghị Quốc vụ viện Trung Quốc thông qua ngày 17/01/2007 và có hiệu lực thi hành từ năm 2008 (ở Việt Nam, Luật tiếp cận thông tin chỉ có hiệu lực từ 01/07/2018) với nhiều điều khoản tiến bộ, như: “Vì để đảm bảo cho công dân, pháp nhân và tổ chức khác dựa vào pháp luật để thu được thông tin của chính quyền, nâng cao tính minh bạch trong công tác của chính quyền… mà ban hành Nghị định này” (Điều 1); “Cơ quan hành chính các cấp phải tăng cường tổ chức lãnh đạo công tác công khai thông tin. Văn phòng Chính phủ là cơ quan chủ quản trong phạm vi toàn quốc đối với công tác công khai thông tin, chịu trách nhiệm thúc đẩy, chỉ đạo, điều phối, kiểm tra, giám sát công tác công khai thông tin trên toàn quốc. Văn phòng Ủy ban nhân dân (hoặc phòng chuyên môn khác do ủy ban nhân dân xác định) từ cấp huyện trở lên là cơ quan chủ quản công tác công khai thông tin có trách nhiệm thúc đẩy, chỉ đạo, điều phối, kiểm tra giám sát công tác công khai thông tin ở khu vực hành chính của mình” (Điều 3). 

Về nội dung công khai thông tin, mỗi cấp hành chính ở Trung Quốc được quy định phạm vi nội dung công khai thông tin khác nhau và được chia làm hai loại: (1) những thông tin công khai chủ động, và (2) những thông tin công khai theo yêu cầu của công dân, tổ chức. Đối với loại thứ nhất, Nghị định của Chính phủ Trung Quốc đã quy định 04 nội dung lớn mà cơ quan hành chính phải chủ động công khai như: những vấn đề liên quan đến lợi ích thiết thân của công dân, pháp nhân và tổ chức khác; những nhu cầu mà đa số quần chúng nhân dân cần phải được biết hoặc tham gia; về cơ cấu tổ chức, chức năng, thủ tục làm việc của cơ quan hành chính nhà nước,…(Điều 9). Trên cơ sở quy định chung này mà từng cấp hành chính có quy định cụ thể về nội dung thông tin cần chủ động công khai. Chẳng hạn, ở cấp huyện trở lên phải chủ động công khai cho công dân 11 loại thông tin liên quan đến các văn bản pháp quy, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách, báo cáo quyết toán, căn cứ, tiêu chuẩn, các hạng mục thu phí, các hạng mục mua sắm, các thông tin liên quan đến tình hình thanh tra, kiểm tra chất lượng sản phẩm, thực phẩm, thuốc chữa bệnh,… Ở cấp xã, thị trấn phải chủ động công khai cho công dân thông tin về 08 nhóm nội dung: những chính sách liên quan đến nông thôn; tình hình quản lý và sử dụng các loại vốn; thu chi tài chính; tình hình, kế hoạch sử dụng đất; vấn đề bồi thường việc trưng dụng, trưng thu nhà, đất; vấn đề thuê mướn, bán đấu giá, nhận thầu đất đai; chính sách sinh đẻ có kế hoạch,.. 

Ngoài những nội dung thông tin mà các cơ quan hành chính nhà nước phải chủ động công khai, Chính phủ Trung Quốc cũng đã ghi nhận quyền của công dân, pháp nhân và tổ chức khác được yêu cầu cơ quan hành chính nhà nước cung cấp thông tin liên quan đến nhu cầu thiết yếu về sản xuất, sinh hoạt, nghiên cứu khoa học,…của công dân, tổ chức đó. Đây cũng là một nội dung khác so với Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn của Việt Nam. Pháp lệnh này đã quy định những nội dung mà chính quyền cấp xã phải công khai cho nhân dân biết nhưng lại chưa đề cập quyền yêu cầu cung cấp thông tin của công dân. 

TTBD
 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK