Chính sách tôn giáo tách biệt của Pháp (LAÏCITÉ)
Cập nhật : 17:01 - 12/11/2014

Khác với Mỹ, Cách mạng Pháp 1789 đã giải quyết triệt để các vấn đề tôn giáo, đó là những văn bản gồm hiến pháp, tuyên ngôn (Tuyên ngôn nhân quyền nổi tiếng ngày 26-8-1789) và các sắc lệnh... trong những năm 1789-1791. Các văn bản này đã xác định quyền dân sự cho sự bình đẳng các tôn giáo, đặc biệt là đối với người theo Đạo Tin lành, Do Thái giáo và cả những người không Công giáo. Tất cả có thể thực hành việc thờ cúng trong sự bảo hộ của Nhà nước, các tu sĩ được phép đi vào đời sống thế tục: có thể được kết hôn, ly dị,v.v...

Kể từ sau khi công bố Luật Phân ly (năm 1905), nước Pháp đã thực hiện kiên quyết những nguyên tắc của chủ nghĩa thế tục, thậm chí trong Hiến pháp (1956), nhà nước thế tục[1] đã trở thành tên gọi của nước Cộng hòa Pháp.

Thực tế, trong pháp luật của Pháp, mô hình nhà nước thế tục được dùng là “laïcité”, điều này thể hiện sự tách biệt của giáo hội và nhà nước. Laïcité là một thành ngữ có thể được hiểu theo hai cách: Ở mặt thứ nhất, laïcité báo hiệu sự tách biệt của giáo hội và nhà nước, hay của tôn giáo và chính trị. Ở mặt khác, được hiểu ít nhiều ở Pháp, nhắc đến tổ hợp của các giá trị dân sự, công dân, và chính trị có từ Tuyên ngôn về Quyền Con người năm 1789 và những nguyên tắc cơ bản được công nhận bởi luật pháp của nền Cộng hòa. Những giá trị này tạo nên lương tâm đạo đức của nền Cộng hòa và là tôn giáo dân sự của nhà nước[2].

Có nhiều cách diễn giải, thậm chí mâu thuẫn nhau, về sự phân lập giữa Nhà thờ và Nhà nước[3]. Liệu sự phân lập này có phải là một hình thức điều chỉnh vấn đề tôn giáo hay không? Theo Patrice Rolland thì đây không những là một sự điều chỉnh, mà còn là một sự điều chỉnh riêng đối với tôn giáo, và cũng là cách khác để nhà nước Cộng hòa Pháp giải quyết vấn đề tôn giáo.

Sự điều chỉnh của Nhà nước Cộng hòa Pháp về tôn giáo có những điểm nổi bật sau:

Sự mập mờ trong việc không công nhận sự tồn tại của tôn giáo:

Trong đạo luật năm 1905, tại điều 2, nêu lên nguyên tắc không công nhận tôn giáo: “Chính thế Cộng hòa không công nhận, không trả lương, không trợ cấp cho bất kỳ tôn giáo nào”. Nguyên tắc này đã tạo ra rất nhiều tranh cãi trong các cuộc thảo luận tại Nghị viện. Vì vậy, có 2 sự lựa chọn trên thực tế:

1. Đây là sự điều chỉnh quyền tự do cá nhân trong lĩnh vực tín tưởng (conviction).

2. Đây là sự điều chỉnh có tính tới vấn đề tôn giáo như một thực thể, vì thực thể tôn giáo có sự khác biệt so với tín tưởng thông thường, vì vậy đòi hỏi phải có chế độ pháp lý phù hợp.

Một hình thức mới điều chỉnh các sự kiện tôn giáo.

         Sự điều chỉnh của đạo luật năm 1905 là sự điều chỉnh pháp lý để phân biệt với điều chỉnh chính trị. Đạo luật này cho phép mỗi tôn giáo được tiếp cận một quy chế tự do mà không cần chờ đợi sự đồng ý của chính quyền, chính quyền muốn ngăn chặn sự việc liên quan tới tôn giáo thì buộc  phải dựa vào luật pháp. Việc điều chỉnh các tín tưởng theo đạo luật năm 1905 là phù hợp với việc áp dụng các luật về quyền tự do.

Sự phân lập là một sự điều chỉnh quyền tự do tôn giáo

Đạo luật năm 1905 xây dựng một quyền tự chủ của nhà nước và các tôn giáo. Theo đó, thẩm phán sẽ dùng các phương thức lập luận dựa trên các quyền tự do và tôn trọng trật tự công cộng. Có thể thấy, trong chính sách của Pháp về sự phân lập giữa Nhà thờ và Nhà nước, vẫn tồn tại một hình thức công nhận tôn giáo. Những hiệp hội đại diện cho niềm tin khác không nhận được ưu đãi này.

Tính trung lập của Nhà nước, thuyết đa nguyên và sự điều chỉnh vấn đề tôn giáo

Nhà nước phải đảm bảo tính trung lập vì phải tôn trọng niềm tin của công dân. Điều này tạo điều kiện cho thuyết đa nguyên tôn giáo tồn tại. Một câu hỏi đặt ra là: làm thế nào để tồn tại cùng một lúc nguyên tắc quyền tự do như nhaunguyên tắc trung lập? Tự do tôn giáo không đòi hỏi có sự điều chỉnh thống nhất. Việc điều chỉnh chủ yếu dựa trên 3 đặc điểm: tự do ý thức tôn giáo; thời gian tồn tại của các tôn giáo; mức độ thâm nhập xã hội, mức độ tham gia vào hoạt động xã hội. Mục đích chính của cuộc thảo luận năm 1905 là việc Giáo hội Công giáo có chấp nhận phương thức hoạt động dân chủ mà nhà nước áp đặt và “việc không phân biệt đối xử, mọi tôn giáo đều phải có cùng một quyền tự do tôn giáo, nhưng không nhất thiết phải theo cùng một quy chế”.

Tóm lại, chính sách phân lập của nhà nước Cộng hòa Pháp được áp dụng từ năm 1905 là một phương thức điều chỉnh đa nguyên tôn giáo, trên phương diện sự phân lập giữa tôn giáo và quyền lực chính trị, và sự phân lập này không có ý nghĩa về mặt luật pháp, “vì nó đưa ra các quy định về một sự công nhận đặc biệt (đối với các tổ chức tôn giáo) khác với luật chung về các hiệp hội”[4]. Nhà nước Cộng hòa Pháp phải thừa nhận sự hiện diện của các tôn giáo và điều chỉnh bằng pháp luật.

 Tuy nhiên, khó khăn hiện nay của nước Pháp khi theo đuổi mô hình Thể chế thế tục trung lập tuyệt đối(L’ Etat laique)[5] là ở chỗ:

- Thứ nhất, nước Pháp là một nước Công giáo, nhưng lại theo đuổi mô hình nhà nước thế tục, vì thế sẽ bị hạn chế trong quyền lực chính trị xã hội và trong lĩnh vực văn hóa tinh thần của xã hội. Điều này dẫn tới vị trí của Công giáo cũng bị suy giảm .

- Thứ hai, khi nhà nước không “công nhận” bất cứ tổ chức tôn giáo nào, các tôn giáo trước nhà nước đều tự do, bình đẳng ngang nhau. Các tổ chức tôn giáo phải thực hiện nguyên lý thế tục, cho nên khi tới các không gian công cộng sẽ có sự xung đột lẫn nhau về biểu trưng tôn giáo.

Tóm lại, việc xây dựng mô hình nhà nước thế tục dù ở đâu cũng đều xoay quanh 3 chân đế: sự “phân ly” giữa quyền lực chính trị của Nhà nước với tôn giáo; sự tôn trọng tự do ý thức và tôn giáo; sự bình đẳng giữa các tôn giáo khác nhau trên phương diện pháp lý và trong đời sống xã hội. Nói một cách cụ thể hơn trong việc xây dựng mô hình nhà nước thế tục, mối quan hệ Nhà nước và các Giáo hội tôn giáo tùy thuộc chủ yếu vào 3 lĩnh vực. Thứ nhất, việc công nhận tư cách pháp nhân cho các tổ chức tôn giáo; thứ hai, việc sử dụng tài sản tôn giáo cho các mục đích tôn giáo và xã hội; thứ ba, sự hiện diện của các trật tự tôn giáo trong hệ thống công quyền của Nhà nước.

Ở Việt Nam, chưa bao giờ thấy có sự tranh luận về học thuật trước hết là ngôn ngữ luật pháp về việc xây dựng mô hình nhà nước thế tục. Nhưng trong thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa từ sau năm 1954 ở Miền Bắc, rất “tự nhiên” đã có sự lựa chọn mô hình nhà nước thế tục ưu tiên cho sự đa dạng (Pluralisme religieux), trong đó nhà nước xác định các “tôn giáo được thừa nhận” theo pháp luật.



(1) Nhà nước thế tục là mô hình nhà nước thực thi chế độ tự do tôn giáo về mặt pháp lý, trong đó sự tuyên xưng của mỗi cá nhân về tôn giáo ăn khớp với vị thế dân sự và quyền tự do tôn giáo. Nhà nước không công nhận bất cứ một tôn giáo nào, các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.

(Nguồn: http://cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30316&cn_id=196281)

(2) W. Cole Durham, Jr.Brett G. Scharffs, Religion and the Law: National, International, and Comparative Perspectives.p. 591-592.

(3) Patrice Rolland, Sự phân lập là một hình thức điều chỉnh đa nguyên tôn giáo về mặt pháp lý, Đa dạng tôn giáo: So sánh Pháp- Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, Viện Văn hóa, Hà Nội, 2011.

(4) Patrice Rolland, Sự phân lập là một hình thức điều chỉnh đa nguyên tôn giáo về mặt pháp lý, Đa dạng tôn giáo: So sánh Pháp- Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, Viện Văn hóa, HN 2011.

(5) L’ Etat laique là mô hình dành cho những nước thực hiện nguyên lý thế tục triệt để nghĩa là nhà nước không công nhận bất cứ một tôn giáo nào, các tôn giáo đều bình đẳng và thực thi nguyên lý thế tục trước nhà nước

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK