NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH THÔNG QUA MỘT DỰ LUẬT Ở QUỐC HỘI MỸ
Cập nhật : 8:46 - 14/11/2013

Trung bình trong mỗi kỳ họp Quốc hội ở Mỹ có hàng nghìn dự luật được đưa ra nhưng hầu hết các dự luật này chưa bao giờ được xem xét và cũng không hy vọng được xem xét. Khi đưa ra các dự luật, mỗi nghị sỹ đều có rất nhiều động cơ khác nhau – để chốt lại quan điểm về một vấn đề, như là một thiện chí đối với cử tri hoặc một nhóm lợi ích đặc biệt nào đó để quảng bá hay để tránh một đòn tấn công chính trị. Tuy nhiên, như Tổng thống Kenedy đã từng nói: “phản đối một dự luật thì dễ dàng hơn rất nhiều việc thông qua nó”. Trong suốt quá trình để một dự luật đi đến phê chuẩn cuối cùng, những người đối lập có rất nhiều cơ hội để phản đối hay trì hoãn việc thông qua nó.

Điểm đầu tiên gây khó khăn cho một dự luật là ở tiểu ban hay ủy ban nơi dự thảo có thể bị xét duyệt kỹ lưỡng và sửa đổi đáng kể. Các bộ phận và các nhân viên của ủy ban muốn thẩm tra những vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của họ, và một phần vì việc xét duyệt của ủy ban sẽ đem đến cho những nhà đối lập các cơ hội hợp pháp để tuyên bố dự thảo cần phải thay đổi như thế nào cho phù hợp. Các uỷ ban được phép tổ chức các cuộc điều trần và thu thập chứng cớ khi xem xét các dự luật. Các uỷ ban cũng có thể sửa đổi dự luật, nhưng chỉ có toàn thể thượng viện hoặc toàn thể hạ viện mới có quyền chấp nhận hoặc bác bỏ các dự luật. Sau khi xem xét và thảo luận, uỷ ban sẽ bỏ phiếu quyết định xem có nên trình dự luật trước toàn viện hay không. Khi được đệ trình bởi uỷ ban, dự luật sẽ được xem xét bởi toàn viện.

Điểm thứ hai gây khó khăn cho một dự luật là việc lên lịch trình cho hoạt động tại các viện. Việc dự luật được đệ trình lên Hạ viện hay Thượng viện sẽ phụ thuộc vào nhiều nhân tố như động thái của việc ban hành các bộ luật khác nhau ra sao, những tranh cãi xoay quanh dự luật và liệu nhà lãnh đạo có thông qua một cách nhanh chóng hay không. Ví dụ, các lãnh đạo có thể quyết định trì hoãn thông qua một dự luật gây nhiều tranh cãi cho đến khi các nhà đề xuất dự luật này có thể tập hợp được đủ số lượng ủng hộ cần thiết đảm bảo cho việc phê duyệt. Ở Thượng viện, thông thường các dự luật sẽ không được lên chương trình xét duyệt cho tới khi được tất cả các thượng nghị sĩ quan tâm bật đèn xanh và quyền bảo lưu của một vài cá nhân hay một nhóm các thượng nghị sĩ được dỡ bỏ.

Khó khăn thứ ba là một dự luật phải vượt qua sự sửa đổi và thông qua tại phiên họp của viện. Qúa trình sửa đổi chính là trung tâm của sự tranh cãi tại phiên họp ở cả Thượng viện và Hạ viện. Các thành viên có thể đưa ra các đề xuất sửa đổi với nhiều mục đích khác nhau. Những sửa đổi này có thể để khẳng định vai trò của họ đối với một vấn đề, thậm chí chỉ sửa đổi chút ít. Sửa đổi cũng có thể từ phía cơ quan hành pháp, từ đại diện cử tri hay từ một nhóm lợi ích nào đó. Nhiều đề nghị sửa đổi được đưa ra nhằm phản đối quá trình làm luật, ví dụ: người ta đưa ra những đề nghị sửa đổi không phù hợp đến mức mà một khi đã chấp nhận, việc sửa đổi đó sẽ khiến cho chính những người ủng hộ ban đầu sẽ quay lại bỏ phiếu chống lại dự luật này ở khâu phê chuẩn cuối cùng. Ngược lại, cũng có thể đưa ra những sửa đổi nhẹ nhàng để thu hút sự ủng hộ lớn cho những dự luật chủ chốt sau đó. Sau cùng, một động thái sẽ được áp dụng ở Hạ viện để đưa dự luật trở lại ủy ban hoặc gửi trả lại nơi họp ngay lập tức với những sửa đổi mới, tạo cơ hội cho phe đối lập thuyết phục các nghị sĩ khác rút lại đề nghị phê duyệt hoặc đưa ra những sửa đổi đáng kể.

Một dự luật nếu thất bại ở Hạ viện hay Thượng viện thì cũng khó có thể được phê chuẩn ở Quốc hội. Với những lý do khác nhau, Hạ viện và Thượng viện sẽ đẩy qua đẩy lại các dự luật, thêm bớt chỉnh sửa các điều khoản hay dự luật cũng phải đưa ra trước phiên họp ủy ban, các ủy ban tạm thời gồm các nghị sĩ thuộc cả Thượng viện và Hạ viện, được lập ra để giải quyết những mâu thuẫn giữa hai viện về một dự luật cụ thể nào đó. Ủy ban này cũng tranh luận và thỏa hiệp đến khi nào dự luật được đa số ủy viên của hai viện tán thành. Cũng có khi các thành viên của ủy ban không đi đến được thỏa hiệp nào và dự luật coi như không được thông qua.

Trong một vài trường hợp, rào cản cuối cùng chính là sự phê chuẩn của Tổng thống. Hầu như tất cả các Tổng thống ngày nay đều sử dụng quyền phủ quyết để thuyết phục Quốc hội khi xem xét một giải pháp nào đó cũng cần phải quan tâm tới các quan điểm hành pháp. Thường thì tổng thống có thể có được sự ủng hộ cần thiết để bác bỏ những nỗ lực thông qua một dự luật ở Quốc hội, do đó những nhà làm luật luôn luôn cố gắng đạt được một sự thỏa thuận với Tổng thống.

Tất cả các bước trên luôn được áp dụng lặp đi lặp lại với hàng nghìn dự luật và phải hoàn thành trong nhiệm kỳ 2 năm của Quốc hội. Bất kỳ dự luật nào không được phê chuẩn ở kỳ họp Quốc hội này thì coi như tự động hủy và sẽ phải đệ trình ở kỳ Quốc hội sau với đầy đủ các thủ tục từ bước đầu tiên. Những dự luật gây nhiều tranh cãi hoặc có ảnh hưởng ít khi được thông qua trong một kỳ họp Quốc hội. Thông thường chúng phải được đệ trình đi đệ trình lại đến khi được đa số nghị viên ủng hộ hoặc sẽ bị hủy như theo các trình tự đã trình bày ở trên.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK