Kinh nghiệm của một số nước trong chính sách chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Cập nhật : 14:40 - 13/09/2013

 

Mô hình tăng trưởng là một khái niệm có nội hàm rất rộng. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều mô hình tăng trưởng mới được nhắc đến, tiêu biểu như mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung tại các nước XHCN; mô hình thị trường tự do tại Mỹ, Anh; mô hình kinh tế thị trường xã hội ở Đức; mô hình nhà nước phát triển ở Hàn Quốc, Nhật Bản hay mô hình kinh tế “kiểu Trung Quốc”… và được tổng kết chủ yếu dựa trên nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn về bài học thành công và thất bại của từng quốc gia.

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu  2008-2009 đã để lại những hệ lụy tiêu cực đối với sự phát triển của kinh tế thế giới, buộc các quốc gia trên thế giới phải thay đổi tư duy về mô hình tăng trưởng. Đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng phù hợp hơn với xu thế của thế giới được nhiều quốc gia xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm ứng phó với những thách thức mới ở cấp độ toàn cầu, hướng tới sự phát triển bền vững hơn trong tương lai.

Thành công trong phát triển kinh tế tại một số nước bắt nguồn từ khả năng nhận thức được “ngưỡng” phát triển, chủ động điều chỉnh chính sách và mô hình phát triển để vươn lên ngưỡng phát triển cao hơn. Tại nhiều nước, mô hình tăng trưởng sau một thời gian nhất định trở nên kém phù hợp và cần phải thay đổi do những chuyển biến của các yếu tố bên ngoài và bên trong nền kinh tế. Về nội tại, khi những động lực với lợi thế cạnh tranh dần được khai thác hết (cạn kiệt tài nguyên, toàn dụng lao động, đạt ngưỡng hấp thụ vốn nước ngoài…), tăng trưởng sẽ sụt giảm. Nền kinh tế buộc phải chuyển hướng từ chiều rộng sang chiều sâu nếu muốn duy trì tăng trưởng cao. Về môi trường bên ngoài, trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng phát triển, một nền kinh tế muốn vươn lên phải tích cực hội nhập quốc tế. Đối với các nền kinh tế nhỏ, cần phải tìm kiếm các “điểm lách” để phát triển, đưa nền kinh tế chiếm lĩnh các “khoảng trống” trong phân công lao động quốc tế, các mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Một số quốc gia ở Đông Nam Á, Mỹ Latinh rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” vì đã không thể vượt qua được “trần thủy tinh” (để vươn lên giai đoạn phát triển tiếp theo mặc dù đã hội tụ nhiều điều kiện yếu tố) trong việc chuyển đổi động lực tăng trưởng kinh tế từ xuất khẩu thô, lắp rắp đơn giản sang sản xuất hàng hóa công nghệ cao.

Lịch sử kinh tế thế giới từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã chứng kiến nhiều mô hình tăng trưởng kinh tế cùng song song tồn tại, trong đó có nhiều mô hình tương đối phổ biến, có ảnh hưởng tới sự phát triển của các quốc gia và thế giới, như mô hình thị trường tự do Anh – Mỹ, mô hình XHCN Liên Xô – Đông Âu, mô hình nhà nước phúc lợi Bắc Âu, mô hình nhà nước phát triển Hàn Quốc – Nhật Bản, mô hình Trung Quốc… Nhiều nước phát triển thành công trên thế giới, điển hình như các nước Đông Bắc Á, hầu hết đã trải qua 2-3 giai đoạn phát triển, trong đó giai đoạn đầu thường phát triển theo chiều rộng, dựa vào xuất khẩu để dần tích lũy nguồn lực nhằm chuyển đổi sang chiều sâu trong giai đoạn tiếp theo. Ở mỗi giai đoạn, dựa vào những động lực tăng trưởng và đặc điểm các nhân tố đầu vào khác nhau mà mô hình tăng trưởng được hỗ trợ bởi cơ chế/thể chế quản lý phù hợp. Tuy nhiên, thời gian qua, trên thế giới, có nước áp dụng mô hình tăng trưởng phù hợp thành công, song cũng có nước sử dụng mô hình tăng trưởng không phù hợp thì thất bại.

Nhóm các nước thành công: Tiêu biểu gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, nhóm “các con hổ châu Á” và Trung Quốc. Các nước này đạt được thành công là nhờ vào:

-               Có sự lựa chọn mô hình tăng trưởng đúng đắn, phát huy được nội lực và phù hợp với điều kiện bên ngoài (tiêu biểu là Trung Quốc)

-               Thành công trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng vượt qua ngưỡng phát triển (Nhật Bản, Hàn Quốc và nhóm “các con hổ châu Á”).

Hàn Quốc và nhóm các nền kinh tế “con hổ châu Á” là tiêu biểu cho bài học thành công của các nước đi sau. Động lực tăng trưởng của các nước này chủ yếu dựa vào xuất khẩu, dựa trên lợi thế về các nhân tố tạo động lực như nguồn lao động, khai thác tài nguyên, thu hút vốn đầu tư… được hỗ trợ bởi cơ chế quản lý mở cửa, hội nhập, thị trường tự do kiểu phương Tây nhưng có sự dẫn dắt chủ động của nhà nước. Kinh nghiệm thành công của các nước này nằm ở hai điểm chính:

-               Tận dụng được “điểm lách” trong cấu trúc kinh tế khu vực và thế giới

-               Nhanh chóng có sự chuyển đổi từ chiều rộng sang chiều sâu thông qua nâng cao giáo dục và công nghệ.

 

Nhật Bản cũng là nước đi sau như nhóm “các con hổ châu Á” nhưng có đặc điểm riêng là ít tài nguyên thiên nhiên. Nhật Bản đã nhận thức được điểm bất lợi này và xác định “tận dụng tốt nhất những gì sẵn có”, dồn mọi nỗ lực cho chuyển đổi kinh tế sang phát triển theo chiều sâu, coi đó là lối đi duy nhất. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Chính phủ Nhật Bản tận dụng nguồn nhân lực dồi dào của đất nước, phát huy “tinh thần Nhật” cần cù lao động và chủ động nhập khẩu, mua bằng sáng chế nước ngoài để tự nghiên cứu và phát triển, ứng dụng trong nước.

Trung Quốc là điển hình về mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, với những lợi thế rất lớn về các nhân tố như lao động, tài nguyên, qua đó thu hút được vốn và động lực tăng trưởng là xuất khẩu, đầu tư. Thành công của Trung Quốc là đã duy trì được mức tăng trưởng cao trong hơn ba thập kỷ liên tục. Tuy nhiên, có một số nhận định cho rằng đây là mô hình “kiểu Trung Quốc”, chỉ phù hợp với Trung Quốc vì qui mô quốc gia và nền kinh tế rất lớn, khó áp dụng với các nước khác. Trên thực tế, Trung Quốc hiện nay đang chịu nhiều sức ép cả về cơ chế quản lý trong kinh tế, chính trị, xã hội, phát triển vùng và đang có những nỗ lực chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang chiều sâu.

Nhóm các nước chưa thành công/thất bại: mô hình tăng trưởng của các quốc gia có thể thất bại bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Một số nguyên nhân tiêu biểu nhất là:

-               Lựa chọn sai mô hình tăng trưởng, động lực tăng trưởng (Liên bang Nga, các nước Mỹ Latinh)

-               Thất bại trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng (các nước Đông Nam Á).

Điểm đáng chú ý là những nguyên nhân này phần lớn xuất phát từ lựa chọn sai lầm của Nhà nước và bất cập của cơ chế quản lý. Liên bang Nga và một số nước Đông Âu trong thập niên 1990 đã nỗ lực chuyển dịch sang kinh tế thị trường thông qua những chính sách tự do hóa theo “liệu pháp sốc”, với mục đích tạo điều kiện tốt nhất để khu vực tư nhân trở thành động lực tăng trưởng. Tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dầu mỏ là nhân tố trực tiếp đem lại tăng trưởng kinh tế cho Liên bang Nga. Về cơ chế quản lý, Liên bang Nga phát triển kinh tế thị trường, giảm thiểu điều hành trực tiếp. Tuy nhiên, việc tư nhân hóa đồng loạt theo liệu pháp sốc đã làm giá giảm không phanh, tài sản quốc gia bị chiếm đoạt bởi giới tài phiệt trong nước và nước ngoài. Sự cải cách ngay lập tức nhằm tư nhân hóa và tự do hóa đồng bộ nền kinh tế không mang lại hiệu ứng tích cực ngay, ngược lại, hệ quả là những bất ổn vĩ mô và bất bình đẳng kinh tế lại xuất hiện rõ rệt và mạnh mẽ.

Các nước châu Mỹ Latinh là bài học thất bại về tính kém hiệu quả của cơ chế quản lý và khu vực nhà nước. Giai đoạn 1930-1980, các nước Mỹ Latinh thực hiện chính sách “công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu” với động lực tăng trưởng là phát triển công nghiệp trong nước, giảm thiểu sự phụ thuộc vào nhập khẩu từ bên ngoài. Qua đó, nhà nước thực hiện chính sách trợ cấp và sử dụng những biện pháp bảo hộ với công nghiệp trong nước, sử dụng các rào cản thương mại đối với hàng nhập khẩu, thay đổi tỷ giá giữa đồng nội tệ và ngoại tệ nhằm giúp các nhà sản xuất trong nước nhập khẩu máy móc và thiết bị hiện đại của nước ngoài. Tuy nhiên, việc Nhà nước tham gia quá sâu vào nền kinh tế nhưng không đủ năng lực điều hành là một trong những nguyên nhân khiến mô hình tăng trưởng này thất bại với hậu quả là khủng hoảng nợ công ở khu vực này.

Các nước Đông Nam Á là điển hình về việc rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” dù có cùng xuất phát điểm như Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore. Thời kỳ đầu tiên, các nước Đông Nam Á đã đạt được một số thành tựu với mô hình tăng trưởng theo chiều rộng. Trên thực tế sau đó, các nước này cũng đã có những chính sách nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang chiều sâu, nhưng khi triển khai trên thực tế đã không đạt được kết quả như mong muốn. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á năm 1997 là nhân tố đã khiến tăng trưởng của nhóm nước này chậm lại trong một thời gian dài.

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trầm trọng năm 2008-2009 đã thay đổi cục diện kinh tế thế giới về cơ bản. Kể từ năm 2008, sự vận hành của kinh tế thế giới có nhiều điểm mới, khác biệt so với thời kỳ trước, đòi hỏi các nước cần phải đổi mới mô hình tăng trưởng, khi những mô thức phát triển kinh tế cũ không còn phù hợp. Trong đó, ba nhân tố mới tác động đến xu thế điều chỉnh chính sách của các nước bao gồm:

-               Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, với hệ quả quan trọng nhất là sự thay đổi về tư duy phát triển;

-               Sự vươn lên của Trung Quốc và các nước đang phát triển;

-               Các thách thức về phát triển và an ninh phi truyền thống.  

 

Sự thay đổi về tư duy phát triển là một trong những điều chỉnh quan trọng nhất của kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện nay với những đặc trưng chủ yếu sau:
-               Điều chỉnh tư duy phát triển từ theo đuổi tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá sang phát triển bền vững;
-               Vấn đề phát triển trở thành ưu tiên trong chính sách phát triển của các quốc gia cũng như chương trình nghị sự  của Liên Hiệp Quốc, các diễn đàn khu vực và quốc tế;
-               Sự nhìn nhận lại về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế, trái với xu hướng tuyệt đối hóa thị trường tự do theo mô hình “đồng thuận Washington”.

Với tư duy đó, các quốc gia chủ trương đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế theo hướng cân bằng, trong đó nhấn mạnh tới các yếu tố như tăng nhu cầu nội địa, đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững, bao gồm khuyến khích các ngành kinh tế “xanh” trở thành một trong những động lực tăng trưởng kinh tế. Một số nền kinh tế đang phát triển cũng ưu tiên điều chỉnh mô hình phát triển kinh tế, tiêu biểu là Trung Quốc nhấn mạnh “quan điểm phát triển khoa học”, chuyển hướng tăng trưởng kinh tế từ dựa vào “xuất khẩu, đầu tư, tiêu dùng” sang “tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư”, từ tăng trưởng thô sang tăng trưởng tinh, tiết kiệm tài nguyên - năng lượng, chú trọng cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Các chính sách về phát triển kinh tế - xã hội của các nước vì đó mà cũng được xây dựng, điều chỉnh hoặc thay đổi cho phù hợp hơn với tình hình thực tế..

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK