Vai trò của tài nguyên thiên nhiên đối với sự phát triển
Cập nhật : 15:19 - 22/07/2013

Ở nhiều quốc gia, việc gán một giá trị kinh tế cho các lợi ích và thiệt hại về môi trường có thể được coi là có hiệu quả nhất tác động đến chính sách, nếu như không nói là cách hiệu quả nhất để xây dựng chính sách. Tăng trưởng là hết sức cần thiết nếu các quốc gia nghèo nhất chỉ hướng tới việc hưởng thụ thu nhập. Tuy nhiên, tăng trưởng sẽ trở nên hão huyền và xa vời nếu nó được tạo ra chủ yếu bởi sự tiêu thụ nguồn lực cơ sở của nền kinh tế, trong đó có tài nguyên thiên nhiên.

Các nguồn tài nguyên không thể phục hồi, một khi đã bị khai thác chỉ có thể trở nên suy thoái, cạn kiệt. Tài nguyên thiên nhiên là hàng hóa kinh tế đặc biệt vì chúng ta không thể sản xuất ra được. Do đó, tài nguyên thiên nhiên sẽ mang lại lợi nhuận kinh tế - thuế tài nguyên – nếu quản lý tốt. Các nguồn thu này có thể là là một nguồn tài chính phát triển quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào. Các nước Botswana và Malaysia đã sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả theo cách này. Không có mỏ kim cương nào là vĩnh viễn, nhưng có những quốc gia có mỏ kim cương có thể khai thác bền vững. Ẩn sau khẳng định này là giả thuyết cho rằng có thể chuyển dạng tư bản này sang dạng tư bản khác – ví dụ từ kim cương trong lòng đất sang các tòa nhà cao ốc, máy móc… Để đạt được sự chuyển đổi này cần phải có các thể chế đồng bộ có khả năng quản lý được tài nguyên thiên nhiên. Quản lý bền vững những ngồn lực này sẽ là chính sách tối ưu, nhưng vấn đề mức độ dự trữ tối ưu lại rất phức tạp. Ví dụ, phá rừng để lấy đất canh tác có phải là tối ưu nếu thuế đất ở diện tích rừng bị phá cũng tương đương với tổng giá trị kinh tế thu được từ khu rừng đó?

Tài nguyên thiên nhiên có hai vai trò cơ bản trong phát triển:

- Thứ nhất, áp dụng cho hầu hết các nước và các cộng đồng nghèo nhất trên thế giới: tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò là nguồn tài nguyên nền tảng đảm bảo cho sự sinh tồn.

- Thứ hai, tài nguyên thiên nhiên là nguồn lực cho tài chính phát triển. Nguồn tài nguyên thiên nhiên thương mại có thể là một nguồn lực quan trọng cho lợi nhuận và giao thương quốc tế. Thuế khai thác tài nguyên không phục hồi, tài nguyên có thể tái tạo, và các nguồn tài nguyên có thể khai thác bền vững có thể được dùng để đầu tư tài chính dưới một hình thức khác của nguồn lực.

Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên rõ ràng là vấn đề nòng cốt của phát triển. Nếu không tạo ra khoản dư để đầu tư, thì các quốc gia không có cách nào thoát khỏi tình trạng mức sống thấp. Sự phụ thuộc vào tài nguyên làm cho việc đo lường các nỗ lực tiết kiệm trở nên phức tạp vì sự suy thoái của tài nguyên thiên nhiên không phải là tài sản hữu hình trong tài khoản ngân sách tiêu chuẩn của quốc gia. Bởi vì, sự tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên phải tính đến sự khấu hao vốn sản xuất, các khoản đầu tư vào nguồn lực con người (được tính theo kinh phí giáo dục), sự suy thoái của khoáng sản, năng lượng, rừng; các thiệt hại từ ô nhiễm không khí ở địa phương và trên toàn thế giới.

Để khai thác tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững, các quốc gia nên đầu tư vào các nguồn thuế từ tài nguyên thiên nhiên. Rất nhiều luận cứ đã kiểm chứng rằng các loại thuế tài nguyên có thể làm tăng đáng kể vốn của những nền kinh tế phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên. Vào những năm 2000, Nigeria, một nước xuất khẩu dầu lớn lẽ ra đã có thể dự trữ vốn sản xuất tính theo đầu người gấp năm lần mức đạt được trong năm đó. Hơn nữa, nếu các khoản đầu tư này được sử dụng, dầu mỏ có thể đóng vai trò nhỏ hơn trong nền kinh tế Nigeria ngày nay, với những tác động có thể có lợi đến các chính sách có ảnh hưởng đến các ngành khác trong nền kinh tế. Tương tự như thế, tính theo đầu người, những nền kinh tế mạnh về dầu mỏ như Cộng hòa Bolivia, Venezuala, Trinidad & Tobago, Gabon…đã có thể có vốn sản xuất dự trữ xấp xỉ 30.000 đô la Mỹ / người, tương đương với Hàn Quốc.

Ở các nước đang phát triển, có nhiều bằng chứng chỉ ra rằng đầu tư vào vốn sản xuất, nguồn lực con người và việc quản lý, kết hợp với nỗ lực tiết kiệm nhằm bù đắp cho sự cạn kiệt của tài nguyên thiên nhiên, có thể giúp nền kinh tế phát triển hơn trong tương lai. Một nền kinh tế, để chuyển được từ tăng trưởng phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên đến tăng trưởng bền vững và cân bằng cần có một loạt thể chế có khả năng quản lý được tài nguyên thiên nhiên, thu thuế tài nguyên và sử dụng các khoản thuế này thành đầu tư có hiệu quả. Chính vì vậy, các nhà hoạch định chính sách cần nhận thức rõ rằng rằng các chính sách nguồn lực, chính sách tài chính và chính sách kinh tế chính trị mà họ xây dựng và hoạch định đều có vai trò to lớn trong bước chuyển này.

 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIII:

Tổng số đại biểu là 497 người;
- 33.4đại biểu ở các cơ quan trung ương;
- 65.8% đại biểu ở địa phương;
- 15.6% đại biểu là người dân tộc thiểu số;
- 24.4% đại biểu là phụ nữ;
- 8.4% đại biểu là người ngoài Đảng;
- 12.2% đại biểu là trẻ tuổi (dưới 40);
- 33.2% là đại biểu Quốc hội khóa XII tái cử;
- 98,2% đại biểu có trình độ đại học và trên đại học;
- 7% đại biểu thuộc khối doanh nghiệp;
- 33% đại biểu hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội;
- 0.8% đại biểu là người tự ứng cử.

WEBLINK