Những điểm khác biệt của mô hình bảo hiến Mỹ
Cập nhật : 10:45 - 17/10/2012

Không có chức năng phòng hiến

Do áp dụng triệt để nguyên tắc tam quyền phân định nên các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình và chỉ có các quan hệ đối trọng với nhau mà không có quan hệ tham vấn, thống nhất ý kiến giữa ba cơ quan này như trong mô hình cộng hòa đại nghị thường thấy. Đặc điểm trên dẫn đến việc Hoa Kỳ chỉ áp dụng “tài phán sau” được thực hiện bởi tòa án mà không có chức năng phòng hiến như trong mô hình Hội đồng Hiến pháp của Pháp.

Chỉ xem xét những sự việc cụ thể

Mặt khác, ở một số quốc gia, một đảng phái chính trị, một nhóm lợi ích nào đó đều có thể kiện một đạo luật của nghị viện là bất hợp hiến trên cơ sở đối chiếu các quy phạm của đạo luật đó với các quy phạm của hiến pháp mà không cần viện dẫn đến một hành vi xâm phạm quyền hiến định của một thể nhân cụ thể. Tòa án Hoa Kỳ không có thẩm quyền thụ lý các vụ án hiến pháp mang tính trừu tượng như vậy, mà chỉ có thẩm quyền khi có một vụ việc cụ thể trong đó các quyền hiến định bị xâm hại trên thực tế (người Mỹ có châm ngôn: chân lý luôn mang tính cụ thể). Do đó, tòa án Hoa Kỳ chỉ xem xét vụ án hiến pháp qua hành vi xâm phạm cụ thể có thể phát sinh từ nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì hai lý do này mà người Mỹ vẫn tiếp tục trao quyền tài phán hiến pháp cho tòa án ở tất cả các cấp. Việc xem một vụ án nào đó có phải là vụ án hiến pháp hay không không dựa vào việc nó được giải quyết ở tòa án nào, mà dựa trên cơ sở khi công dân khiếu nại quyền của anh ta được quy định trong hiến pháp đã bị xâm hại.

Tòa án Hoa Kỳ có thể tuyên bố một hành vi của tổng thống, hay của bất kỳ cơ quan lập pháp, hành pháp hay người thi hành công vụ ở liên bang hay tiểu bang là bất hợp hiến. Đặc biệt, tòa án Hoa Kỳ có quyền xem xét lại tính hợp hiến của một đạo luật do Nghị viện liên bang ban hành. Nhưng khác với tòa tài phán hiến pháp ở một số quốc gia khác, tòa án Hoa Kỳ không tuyên bố hủy bỏ đạo luật bất hợp hiến mà chỉ từ chối áp dụng nó trong một vụ án hiến pháp cụ thể. Tuy nhiên, sự từ chối áp dụng này ở một quốc gia coi trọng án lệ như Hoa Kỳ sẽ có tác dụng như việc tuyên bố hủy bỏ đạo luật bất hợp hiến đó của Nghị viện.

Tiến hành theo thủ tục tố tụng thông thường

Không giống như các nước theo mô hình Hội đồng Bảo hiến hoặc Tòa án Hiến pháp, ở Mỹ xem xét tính hợp hiến của một văn bản hoàn toàn diễn ra tại tòa án thường, vì vậy, nó giống như thủ tục tố tụng thông thường. Bất kỳ vụ án nào từ lĩnh vực dân sự, kinh tế hành chính, hình sự đều có thể dẫn đến vụ án hiến pháp nếu như công dân khiếu nại rằng quyền của anh ta được ghi nhận trong hiến pháp đã bị xâm hại.

Trong khi xét xử một vụ việc cụ thể, nếu vấn đề xem xét tính hợp hiến của các đạo luật được đặt ra và tòa án xét xử cho rằng đạo luật được áp dụng có dấu hiệu trái với Hiến pháp thì theo yêu cầu của các bên liên quan hoặc tòa án tự mình đệ đơn lên Tòa án Tối cao yêu cầu kiểm tra tính hợp hiến của đạo luật đó. Các thẩm phán của tòa án thụ lý, giải quyết vụ việc, đồng thời cũng chính họ thực hiện luôn việc kiểm tra, đánh giá và kết luận về tính hợp hiến của các đạo luật được áp dụng trong vụ án đó.

Điểm khác biệt thực tế của thủ tục tố tụng của vụ án hiến pháp là nó thu hút sự chú ý của dư luận và có thể gây ảnh hưởng về mặt chính trị, nên việc kháng cáo lên Tòa án tối cao dễ dàng được chấp nhận hơn.

Như vậy, xuất phát từ những nền tảng lý luận và những điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, cơ chế bảo hiến của Mỹ đã được hình thành với nhiều điểm riêng biệt so với mô hình bảo hiến kiểu châu Âu. Cho đến nay, cơ chế này đã trở thành một trong hai mô hình cơ chế bảo hiến phổ biến nhất trên thế giới. Nhiều quốc gia tuy không áp dụng hoàn toàn mô hình Mỹ nhưng đã nghiên cứu và tiếp thu những điểm hợp lý để xây dựng mô hình bảo hiến phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình.

(Nguồn: daibieunhandan.vn)

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK