Giai đoạn Nghị viện trong Quy trình lập pháp ở Canada
Cập nhật : 10:55 - 04/07/2011

Dự án luật có thể được bắt đầu ở cả Thượng viện hoặc Hạ viện, nhưng hầu hết dự luật của chính phủ đều được gửi đến Hạ viện. Tuy nhiên, các các dự án luật về ngân sách không được gửi đến Thượng viện.

Thông báo về giới thiệu dự luật được đặt trong chương trình làm việc: không phải là một giai đoạn của một dự luật mà là bước sơ bộ trong quy trình lập pháp. Một cá nhân thành viên Chính phủ hoặc Bộ trưởng có ý định giới thiệu một dự luật phải thông báo bằng văn bản trước bốn mươi tám giờ. Việc thông báo này là cần thiết trước khi giới thiệu bất kỳ dự luật công nào. Tiêu đề của dự thảo luật sẽ được giới thiệu được đặt trong Chương trình làm việc theo thứ tự các thông báo đã nhận được.

Sau khi thời hạn cần thiết để gửi văn bản thông báo đã hết hạn, thành viên Chính phủ đã sẵn sàng giới thiệu dự luật của mình, Chủ tịch Hạ viện sẽ thông báo trong chương trình nghị sự rằng thành viên Chính phủ được phép giới thiệu dự luật: bản kiến nghị dự luật được coi là thực hiện mà không tranh luận, sửa đổi. Mặc dù không có lời giải thích thường thấy của Bộ trưởng Bộ được phép giới thiệu dự luật Chính phủ, thì một cá nhân thành viên Chính phủ giới thiệu một dự luật có thể đưa ra một lời giải thích ngắn gọn về mục đích của dự luật.

Giai đoạn thực sự đầu tiên trong quy trình lập pháp giới thiệu dự luật đọc lần đầu ở Hạ viện. Khi thời hạn gửi thông báo đã hết và thành viên Chính phủ đã sẵn sàng giới thiệu dự luật, thì Thành viên đó hoặc Bộ trưởng thông báo cho Cấp trên của mình dự định giới thiệu trong Chương trình nghị sự khi các mục "giới thiệu về Dự án luật Chính phủ" hoặc "giới thiệu các dự án luật " được gọi. Mục đích của việc đọc lần đầu là cho phép một dự luật được in ấn và phân phát cho tất cả các thành viên để nghiên cứu. Sau khi dự luật được phép giới thiệu, Chủ tịch Hạ viện lập tức đề nghị Hạ viện đọc lần đầu "Dự luật này cần được đọc lần đầu và được in". Một lần nữa, lời đề nghị được thực hiện mà không có tranh luận, sửa đổi. Sau đó Chủ tịch Hạ viện hỏi: "Khi nào dự luật này sẽ được đọc lần hai?", và câu trả lời thường là, "Vào lần họp tiếp theo của Hạ viện”. Điều này chỉ đơn giản là một hình thức cho phép dự luật được đặt vào chương trình làm việc để đọc lần hai, có thể dưới hình thức "Dự luật của Chính phủ" hoặc "dự luật riêng của thành viên Chính phủ", được gán số. Có thể nói rằng mục đích của việc đọc lần đầu là cho phép một dự luật được giới thiệu, in ấn phân phối để các thành viên của cả hai Viện, các phương tiện truyền thông công chúng có cơ hội chú ý đến sự tồn tại của nó.

Mặc dù không phổ biến trên thực tế, các dự luật vẫn có thể được gửi đến các Uỷ ban thường trực hoặc đặc biệt sau lần đọc đầu tiên để nghiên cứu trước.

Đọc lần hai thường được coi giai đoạn quan trọng nhất trong việc thông qua một dự luật. Đó giai đoạn dự luật được tranh luận. Nguyên tắc đối tượng của dự luật được thảo luận. Các điều khoản của dự luật không được thảo luận chi tiết ở giai đoạn này. Việc tranh luận trong lần đọc thứ hai đôi khi có thể được kéo dài. Nó bắt đầu với một lời giải thích về dự luật của người bảo trợ, và thường kết thúc khi không có ai phát biểu thêm hoặc khi người bảo trợ phát biểu lần thứ hai để đáp lại cuộc tranh luận về dự luật. Sau khi dự luật đã được thông qua về nguyên tắc trong lần đọc thứ hai, thường được chuyển một ủy ban để nghiên cứu báo cáo.

Ba loại sửa đổi có thể được đề xuất trong lần đọc thứ hai: i) thời gian đọc sáu tháng: "dự luật không được đọc lần thứ hai hôm nay nhưng được đọc lần thứ hai trong sáu tháng kể từ hôm nay"; ii) việc sửa đổi lập luận, trong đó thể hiện lý do cụ thể để phản đối lần đọc thứ hai; iii) một sửa đổi để chuyển vấn đề cho một ủy ban trước khi các nguyên tắc của dự luật được chấp thuận.

Giai đoạn Ủy ban xác định rằng các dự luật công không thể được sửa đổi cho đến khi chúng được đọc lần hai và được chuyển cho ủy ban. Thông thường, các dự luật được chuyển đến một ủy ban thường trực nhiệm vụ tương ứng với vấn đề của dự luật. Tuy nhiên, Hạ viện có thể chọn để chuyển dự luật cho một ủy ban lập pháp, một loại Ủy ban riêng biệt được tạo ra chỉ để thực hiện việc xem xét công tác xây dựng luật.

Vai trò của Ủy ban xem xét văn bản của dự luật, phê duyệt hoặc sửa đổi nó. Đây là giai đoạn mà các nhân chứng kỹ thuật có thể được mời đến trước ủy ban để trình bày quan điểm của họ và trả lời các câu hỏi của thành viên Ủy ban.

Sau đó Uỷ ban sẽ tiến hành nghiên cứu từng điều khoản. Đây là thời điểm mà các thành viên Ủy ban có thể đề xuất sửa đổi dự luật. Mỗi điều khoản được xem là riêng rẽ. Một khi tất cả các bộ phận của dự luật đã được xem xét thông qua, dù có hoặc không có sửa đổi, thì toàn thể thành viên Uỷ ban sẽ bỏ phiếu thông qua toàn bộ dự luật.

Khi dự luật được thông qua, Chủ tịch yêu cầu Ủy ban gửi báo cáo dự luật đến Hạ viện. Các Ủy ban phải báo cáo với Hạ viện về tất cả các dự luật được gửi đến Ủy ban mình. Nếunhiều sửa đổi được chấp nhận, Uỷ ban có thể yêu cầu in lại dự luật để các thành viên Ủy ban dùng cho giai đoạn báo cáo.

Giai đoạn báo cáo không thể bắt đầu sớm hơn ngày họp thứ hai sau khi dự luật được báo cáo, trừ khi Hạ viện có yêu cầu khác. Điều này không có nghĩa là để xem xét lại hoặc lặp lại giai đoạn ủy ban. Thay vào đó, giai đoạn này cho phép tất cả các thành viên của Hạ viện, không chỉ những người trong ủy ban, giới thiệu thảo luận các sửa đổi đối với dự luật. Văn bản thông báo về kiến nghị sửa đổi trong giai đoạn báo cáo phải được kẹp vào hồ sơ ít nhất một ngày họp trước khi bắt đầu xem xét, được đặt trong chương trình làm việc. Đối với những dự luật liên quan đến tài chính cần sự xem xét của Hoàng gia, cũng phải tuân thủ yêu cầu về trình tự này.

Chủ tịch Hạ viện có thể chọn nhóm các đề xuất sửa đổi dành cho thảo luận có thể quy định mỗi kiến nghị sửa đổi nên được bỏ phiếu riêng rẽ hay theo nhóm. Ví dụ, Chủ tịch Hạ viện sẽ không chọn tranh luận giai đoạn báo cáo bất kỳ kiến nghị sửa đổi nào được giới thiệu dưới hình thức tương tự bác bỏ sửa đổi trước đó giai đoạn ủy ban. Tương tự như vậy, các sửa đổi về căn bản tương tự như những sửa đổi được chọn thì sẽ không được chọn.

Sự phân nhóm các sửa đổi của Chủ tịch Hạ viện để xem xét có thể bị hoãn lại. Nếunăm thành viên hoặc nhiều hơn đứng lên ở vị trí của mình yêu cầu cung cấp hồ sơ sửa đổi, Chủ tịch Hạ viện có thể hoãn việc cung cấp hồ sơ cho đến khi một số hoặc tất cả các đề nghị sửa đổi đối với dự luật đó đã được tranh luận.

Sau khi kết thúc cuộc tranh luận giai đoạn báo cáo, khi tất cả kiến nghị sửa đổi đã được xử lý, kiến nghị động thái để dự luật (với bất kỳ sửa đổi nào) được đồng tình. Cách diễn đạt sự đồng tình sẽ thay đổi tùy theo nếu dự luật đó đang được sửa đổi. Rồi sau đó, khi Hạ viện đã đồng tình với dự luật trong giai đoạn báo cáo, Chủ tịch Hạ viện sẽ hỏi Hạ viện, "Khi nào  dự luật này sẽ được đọc lần thứ ba?", điều này đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn báo cáo.

Mục đích của việc đọc thứ ba là xem xét lại dự luật dưới hình thức cuối cùng của nó. Việc đọc lần thứ ba yêu cầu Hạ viện có sự phê chuẩn cho cả mục đích của dự luật và các phương pháp được nêu trong dự luật để đạt được mục đích đó. Đây thời điểm mà các thành viên phải xác định xem dự luật đó phù hợp để trở thành luật tranh luận xoay quanh nội dung được sửa đổi giai đoạn báo cáo.

Các loại sửa đổi giống nhau có thể được đề xuất trong lần đọc thứ hai thì cũng có thể được đề xuất tại đọc thứ ba, đó , đọc trong sáu tháng các sửa đổi lập luận. Tuy nhiên, các sửa đổi lập luận phảiliên quan mật thiết đến dự luật không trái với nguyên tắc của dự luật được thông qua tại lần đọc thứ hai.

Một khi các kiến nghị trong lần đọc thứ ba được thông qua, dự luật sẽ được chuyển đến Thượng viện để phê duyệt, như vậy đã hoàn thành quy trình lập pháp tại Hạ viện.

Sau khi dự luật được thông qua Hạ viện, một thông điệp được gửi tới Thượng viện thông báo rằng dự luật đó cũng cần được họ thông qua. Tuy thủ tục để thông qua một dự luật ở Thượng viện và Hạ viện như nhau nhưng cũng sự khác biệt nhất định. Ở Thượng viện không giai đoạn yêu cầu giới thiệu một dự luật , như ở Hạ viện, lần đọc đầu tiên được quyết định mà không cần tranh luận hay biểu quyết. Hơn nữa, mặc dù thực tế là tất cả các dự luật được gửi đến Ủy ban để xem xét, nhưng việc đó chỉ là tùy chọn.

Nếu Thượng viện thông qua một dự luật mà không sửa đổi , một thông điệp sẽ được gửi đến Hạ viện để thông báo rằng dự luật đã được Thượng viện thông qua mà có không sửa đổi sự tán thành của Hoàng gia thường đến ngay sau đó hoặc trong ngày .

Tuy nhiên, nếu sửa đổi đối với dự luật này, Thượng viện sẽ gửi thông điệp này đến Hạ viện hồi lại dự luật để Hạ viện có thể tranh luận về những sửa đổi của Thượng viện. Việc tranh luận ở giai đoạn này được giới hạn với những sửa đổi đang được xem xét không được mở rộng đến các sửa đổi khác cũng như bản thân dự luật. Nếu Hạ viện chấp nhận những sửa đổi, dự thảo luật được trả lại với sự nhất trí được xác nhận trên dự luật. Nếu những sửa đổi bị bác bỏ hoặc chỉ được chấp nhận một phần, thì lý do bác bỏ hay không chấp nhận sẽ được nêu trong một thông điệp gửi tới Thượng viện.

Nếu Thượng viện vẫn bảo lưu ý kiến về những sửa đổi của họ, thì một điều khoản cho phép tổ chức hội nghị giữa hai Viện. Cần lưu ý rằng thủ tục này không được sử dụng từ những năm 1940.

 

GIAI ĐOẠN HOÀNG GIA PHÊ CHUẨN VÀ CÓ HIỆU LỰC:

Một khi một dự luật được thông qua thì hình thứcHạ viện Thượng viện đều giống hệt nhau, giai đoạn cuối cùng mang tính nghi lễ này diễn ra tại Thượng viện ở đó các thành viên của Hạ viện cũng được triệu tập để tham dự. Buổi lễ là một trong những thủ tục nghị viện lâu đời nhất có sự tham gia của cả ba thành phần của Quốc hội, đó là, Hoàng gia, Thượng viện Hạ viện. Từ năm 2002, khi thông qua luật sự phê chuẩn của Hoàng gia được biểu thị bằng một bản tuyên bố, trước đó việc này là của Thượng viện.

Có sự khác biệt giữa việc thông qua luật và làm cho nó có hiệu lực. Mặc dù một dự luật trở thành một đạo luật sau khi được thông qua cả hai Viện dưới hình thức giống nhau, Đạo luật có thể hoặc không có thể có hiệu lực tại thời điểm mà tại đó nó được chấp thuận. Nếu như ngày hoàng gia phê chuẩn thường là ngày mà Luật có hiệu lực thì có thể có một ngày khác được quy định trong dự luật, đó là ngày có hiệu lực hồi tố hoặc ngày sẽ có hiệu lực. Cũng có khả năng là đạo luật có thể tuyên bố rằng nó sẽ có hiệu lực vào một ngày được ấn định bởi Hội đồng quản lý.

Khi một đạo Luật có hiệu lực thì việc chuyển đổi từ chính sách sang một đạo luật có thể thực thi đã hoàn tất.

Quy trình lập pháp ở từng Viện trong Quốc hội của Canada không khác nhau mấy. Tuy nhiên, các quy định về thủ tục điều chỉnh các quy trình này cần được thiết lập, xem xét và sửa đổi dần dần, để tạo thuận lợi cho việc xem xét các dự án luật công, mở rộng vai trò của các Ủy ban để có sự tham gia của công chúng nhiều hơn, và cho phép nhiều thành viên nghị viện tham gia hơn. Để suy ngẫm về các phương án cải thiện quy trình lập pháp ở Quốc hội các nước, điều quan trọng cần nhớ rằng không có mô hình nào là duy nhất đúng cho tất cả các cơ quan lập pháp. Mỗi Quốc hội phải cân nhắc các quy tắc riêng tùy theo những đặc thù về thể chế của mình, bao gồm cả hiến pháp và chính trị. Trích lời Jacques Chirac, Tổng thống Cộng hòa Pháp tại lễ khai mạc Hội nghị thượng đỉnh khối Cộng đồng Pháp ngữ lần thứ VII, năm 1997 tại Hà Nội, Việt Nam, ông đã nói: "Không ai có độc quyền về một chính phủ tốt - Không có công thức tốt nhất cho nền dân chủ".

 


 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK