KHÂU HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH TRONG QUY TRÌNH LẬP PHÁP NGHỊ VIỆN CỘNG HÒA UGANDA
Cập nhật : 11:55 - 02/11/2010
Ảnh ST

Những tuyên ngôn đơn thuần về chính sách không tạo ra nghĩa vụ bắt buộc phải thi hành, mà cần phải chuyển hóa chúng thành các quy định pháp luật. Mặt khác, nếu không xuất phát từ chính sách, các quy định pháp luật chỉ là những câu chữ mang tính kỹ thuật xa vời thực tế. Chính vì quan niệm như vậy, trong quy trình lập pháp ở Uganda, người ta chú trọng đến tăng cường hiệu quả của việc phân tích chính sách và hình thành chính sách lập pháp trước khi soạn thảo luật. Đây là điểm xuất phát cho cả chặng đường dài đến đích là việc ban hành, ra đời một đạo luật tốt.

Chính sách đàng sau dự luật sẽ xác định nội dung, cấu trúc, thời gian, tiến độ của cả quy trình lập pháp. Từ chính sách đã được định hình, chuyên gia về chính sách của bộ ngành sẽ truyền đạt chính sách tới các chuyên gia của cơ quan soạn thảo chuyên biệt, thống nhất các nội dung chính về chính sách cần được thể hiện trong dự luật.

Chính sách của một dự luật ở Uganda được rút ra từ chương trình hành động của chính đảng cầm quyền, từ đề xuất của các nhóm trong xã hội, từ các nghĩa vụ quốc tế, các vấn đề nổi lên trong cuộc sống…Vì Chính phủ trình đại đa số các dự luật ở Uganda, cho nên người ta tin rằng phần lớn các dự luật của chính phủ xuất phát từ các cam kết của chính phủ đã được đưa ra trong chương trình hành động. Tuy nhiên, trên thực tế không hẳn vậy, mà trong nhiều trường hợp chúng xuất phát từ các bộ ngành nhằm phản ứng nhanh trước những vấn đề chính sách xuất hiện trong thực tiễn.

Mặt khác, cũng giống như các nước theo hình mẫu của Anh, chính sách lập pháp của Chính phủ Uganda chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Nội các. Điều này nhằm đảm bảo cho chương trình làm luật của Chính phủ được cân nhắc kỹ lưỡng và có tổ chức tốt. Như một tác giả nhận xét, nhiều khi cơ quan soạn thảo phải mất thời gian vào những dự luật mà sau đó không được chấp nhận chỉ vì trước đó chính sách không được bàn thảo, cân nhắc kỹ lưỡng.

Bên cạnh đó, thực tiễn ở Uganda cho thấy, có những dự luật được lên chương trình kỹ lưỡng, chính sách được thể hiện tốt, nhưng vẫn gặp phải sự phản kháng trong xã hội, chỉ vì ý nguyện của các bên liên quan không được tính đến đầy đủ. Chính vì thế, có nhiều người cho rằng, khi hình thành chính sách cho một dự luật, cần quan tâm đến lợi ích của các nhóm dân cư trong xã hội, và cần tham vấn công chúng ngay từ công đoạn này, chứ không đợi đến khi có dự thảo luật. Trên phương diện này, người ta nhớ lại, quá trình ban hành Hiến pháp 1995 đã có sự tham vấn công chúng chưa từng có tiền lệ ở Uganda. Năm 1999, Ủy ban Cải cách pháp luật Uganda cũng xây dựng quy trình tham vấn công chúng, nhưng chính Ủy ban này thừa nhận vào năm 2004, mức độ tham vấn công chúng ở Uganda còn thấp. Hơn nữa, quá trình tham vấn thường kéo dài, tốn nhiều nguồn lực tài chính và con người, trong khi đó Uganda còn gặp nhiều khó khăn trong chuyện này. Do đó, thiết kế một quy trình tham vấn công chúng phù hợp mà hiệu quả là một thách thức lớn đối với Uganda.

Trong công đoạn phân tích chính sách ở Uganda, người ta cho rằng, làm luật là một hoạt động rất tốn kém, vì vậy trước hết cần xem xét có nhất thiết phải ban hành luật không, hay là có thể áp dụng các biện pháp khác rẻ tiền hơn làm luật mà vẫn mang lại kết quả mong muốn. Để trả lời câu hỏi này, ở Uganda cho rằng không thể thiếu việc phân tích tương quan chi phí-lợi ích của phương án chính sách được đưa ra. Chỉ có điều, như nhiều ví dụ ở Uganda như Luật đất đai, hoặc quy định về tuổi được quan hệ tình dục cho thấy, rất khó nhận diện, đo lường và cộng trừ các lợi ích và chi phí để lựa chọn phương án chính sách tối ưu.

Những tuyên ngôn đơn thuần về chính sách không tạo ra nghĩa vụ bắt buộc phải thi hành, mà cần phải chuyển hóa chúng thành các quy định pháp luật. Sau khi chính phủ (Nội các) Uganda đã phê chuẩn chính sách cần được “dịch” thành luật, soạn thảo luật là bước tiếp theo trong quy trình lập pháp ở nước này.

Nguyên Lâm

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK