Vài nét về bộ quy tắc ứng xử của nghị viện các nước
Cập nhật : 11:55 - 02/11/2010

Mặc dù một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của nghị viện là buộc Chính phủ phải chịu trách nhiệm giải trình, họ cũng có nghĩa vụ đảm bảo rằng những thành viên nghị viện tuân thủ những tiêu chuẩn cao nhất về hành xử đạo đức.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các bộ quy tắc ứng xử của nghị viện xây dựng cho các nghị sỹ một khuôn khổ tiêu chuẩn về hành xử và giúp xã hội có sơ sở để đánh giá liệu các nghị sỹ có tiến hành công việc của mình một cách có đạo đức hay không. Bộ quy tắc ứng xử cũng giúp các nghị sỹ mới biết cần phải có những hành vi nào. Những bộ quy tắc này được soạn thảo ra và thực hiện với tính chất phi đảng phái nhằm đảm bảo thành công. Những bộ quy tắc này được soạn thảo ra và thực hiện với tính chất phi đảng phải nhằm đảm bảo thành công. Những bộ quy tắc này phải được công bố công khai và phổ biến để những người dân bình thường đều được biết và giới truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc đưa tin về mức độ tuân thủ của các nghị sỹ.

Các bộ quy tắc ứng xử cần được soạn thảo càng chi tiết càng tốt nhằm đề cập tới nhiều mảng việc của nghị sỹ. Các bộ quy tắc ứng xử của mỗi quốc gia có những trọng tâm khác nhau.

Quy tắc ứng xử của Nghị viện Vương quốc Anh

            Ủy ban về các chuẩn mực trong đời sống công cộng đã xác định 7 nguyên tắc về ứng xử công cộng mà họ tin rằng cần phải được áp dụng cho tất cả trong khu vực công và đã đưa những nguyên tắc này vào bộ quy tắc ứng xử cho nghị sỹ năm 1995. Đó là:

            Không vị kỷ: Những người nắm giữ chứuc vụ công cần hành động hoàn toàn vì lợi ích chung. Họ không được lợi dụng chức vụ vì lợi ích kinh tế hoặc những lợi ích khác cho bản thân, gia đình và bạn bè họ.

Tính liêm chính: Những người nắm giữ chức vụ công không được liên quan tới bất kỳ một nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ nào khác với những cá nhân hoặc tổ chức bên ngoài, những bên có thể tìm cách gây ảnh hưuowngr với họ trong công việc công.

Tính khách quan: Khi thực hiện nhiệm vụ công, bao gồm các cuộc gặp làm việc công, chấm dứt hợp đồng, hoặc giới thiệu cá nhân được hưởng phần thưởng hoặc lợi ích, các quan chức phải lựa chọn trên cơ sở năng lực.

Trách nhiệm giải trình: Những người nắm giữ chức vụ công phải chịu trách nhiệm giải trình về những quyết định và hành động của mình trước công chúng và phải chấp thuận mọi hình thức giám sát phù hợp.

Cởi mở: Người nắm giữ chức vụ công phải cởi mở đến hết mức có thể về các quyết định và hành động của mình. Họ pahri đưa ra các lý do cho quyết định của mình và chỉ được hạn chế thông tin khi lợi ích của đông đảo công chúng đòi hỏi.

Trung thực: Người nắm giữ chức vụ công có bổn phận phải công bố bất kỳ một lợi ích cá nhân nào liên quan tới nhiệm vụ công của mình và phải có biện pháp giải quyết bất kỳ xung đột lợi ích nào phát sinh theo cách có lợi cho công chúng.

Vai trò lãnh đạo: Người nắm giữ chức vụ công phải thúc đẩy và ủng hộ những nguyên tắc nói trên thông qua vai trò lãnh đạo của mình và bằng cách làm gương.

Bên cạnh đó, các bộ quy tắc ứng xử cũng kêu gọi nghị sỹ bảo đảm hành động có đạo đức và phục vụ lợi ích công chúng, chứ không phải bản thân họ. Cụ thể là :

Các nghị sỹ phải luôn soi chiếu vào lợi ích công chúng khi thực hiện nhiệm vụ, tránh xung đột giữa lợi ích cá nhân và lợi ích công chúng và ngay lập tức giải quyết mọi tranh chấp giữa lợi hai lợi ích này theo hướng có lợi cho lợi ích công.

Các nghị sỹ luôn phải hành xử nhằm duy trì và tăng cường lòng tin của công chúng và tính liêm chính của Nghị viện và không bao giờ được có hành động nào làm giảm uy tín của Hạ viện, hoặc các nghị sỹ nói chung.

Việc một nghị sỹ nhận hối lộ, bao gồm các loại phí tổn, bồi thường, tiền thưởng, để ủng hộ hoặc phản đối bất kỳ một dự luật, kiến nghị, hoặc bất kỳ một vấn đề gì được trình, hoặc sắp tới được  trình lên Hạ viện, hoặc bất kỳ một Ủy ban nào của Hạ viện là trái với luật nghị viện.

Các nghị sỹ phải đáp ứng một cách đầy đủ những yêu cầu của Hạ viện liên quan đến kê khai các lợi ích tại Ban kê khai lợi ích của hạ nghị sỹ, phải luôn luôn để tâm, chú ý tới bất kỳ lợi ích nào liên quan tới những hoạt động của Hạ viện hoặc các Ủy ban, hoặc trong bối quan hệ với các Bộ trưởng, các Bộ và cơ quan hành pháp khác.

Trong bất kỳ một hoạt động nào với một tổ chức mà hạ nghị sỹ có quan hệ tài chính, kể cả những hoạt động không công khai như gặp gỡ hoặc tham dự sự kiện không chính thức, hạ nghị sỹ đó phải luôn ghi nhớ yêu cầu phải cởi mở, thắng thắn với các bộ trưởng, các hạ nghĩ sỹ khác và quan chức.

Không hạ nghị sỹ nào được hành động với tư cách là một người bảo vệ lợi ích được trả thù lao trong các hoạt động của Hạ viện.

Không được sử dụng sai mục đích những khoản tiền hoặc thù lao trả cho các Hạ nghị sỹ vì mục đích công, cần tuân thủ chặt chẽ các luật lệ hành chính về những khoản tiền này.

Các hạ nghị sỹ phải ghi nhớ rằng những thông tin riêng họ nhận được liên quan đến hoạt động nghị viện chỉ được sử dụng cho những hoạt động đó và không được sử dụng vì lợi ích tài chính riêng.

Quy định về quà biếu của Hạ viện Hoa Kỳ

Quy định về quà biếu của Hạ viện cấm hạ nghị sỹ nhận bất kỳ một loại quà biếu nào nếu không phải là ngoại lệ được ghi trong quy định. Những quà biếu được phép nhận bao gồm:

Bất kỳ một thứ quà tặng nào (không phải tiền hoặc có thể quy ra tiền) có giá trị nhỏ hơn 50 USD. Tuy nhiên, giá trị quà tặng tích lũy trong một năm từ một nguồn cũng không được quá 100USD.

Quà tặng trị giá dưới 10USD không bị tính vào giới hạn hàng năm;

Không được phép “mua một phần quà tặng”- ví dụ: không được phép nhận một món quà trị giá 55 USD và trả 6 USD.

Quà tặng từ họ hàng, và quà tặng từ các hạ nghị sỹ khác hoặc nhân viên văn phòng nghị sỹ.

Quà của bạn bè cá nhân (nhưng không được phép nhận một món quà trị giá quá 250USD mà không có sự chấp thuận bằng văn bản của Ủy ban chuẩn mực)

Tiếp đãi tại nhà riêng (trừ khi là của một nhà vận động hành lang có đăng ký)

Tham dự không tính thù lao tại các sự kiện từ thiện, chính trị hoặc liên quan đến công việc nhưng có nhiều người tham dự, do nhà tài trợ mời và tham dự không tính thù lao tại các buổi chiêu đãi;

Bất kỳ một thứ gì do liên bang, bang, hoặc chính quyền địa phương trả.

Hạ nghị sỹ và nhân viên không bao giờ được đòi hỏi hoặc nhận quà liên quan tới những hành động mà họ đã thực hiện hoặc được yêu cầu thực hiện.

 

 

Bộ quy tắc ứng xử của Nghị viện Uganda

Các nghị sỹ nghị viện Uganda phải tuân thủ những nguyên tắc hành xử chung :

Không vị kỷ: Nghị sỹ cần hành động hoàn toàn vì lợi ích công chúng. Họ không được lợi dụng chức vụ vì lợi ích kinh tế hoặc những lợi ích khác cho bản thân, gia đình và bạn bè họ.

Tính liêm chính: Nghị sỹ không được để mình liên quan đến bất kỳ một nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ nào khác với những cá nhân hoặc tổ chức bên ngoài, những bên có thể tìm cách gây ảnh hưởng với họ trong công việc công.

Tính khách quan: Khi thực hiện công việc công, bao gồm các cuộc hẹn làm việc, chấm dứt hợp đồng, hoặc giới thiệu các cá nhân được hưởng phần thưởng hoặc lợi ích, các quan chức phải lựa chọn trên cơ sở năng lực.

Trách nhiệm giải trình: Nghị sỹ phải chịu trách nhiệm giải trình về những quyết định và hành động của mình trước công chúng và phải chấp thuận mọi hình thức giám sát phù hợp.

Cởi mở: Nghị sỹ phải cởi mở đến hết mức có thể về các quyết định và hành động của mình. Họ phải đưa ra các lý do cho quyết định của mình và chi được hạn chế thông tin khi lợi ích của đông đảo công chúng đòi hỏi phải làm thế.

Trung thực: Nghị sỹ có bổn phận phải công bố bất kỳ một lợi ích cá nhân nào liên quan tới nhiệm vụ công ucar mình và có biện pháp giải quyết bất kỳ xung đột lợi ích nào phát sinh theo cách có lợi cho lợi ích công chúng.

Vai trò lãnh đạo: Nghị sỹ phải thúc đẩy và ủng hộ những nguyên tắc này thông qua vai trò lãnh đạo của mình và bằng cách làm gương.

Tổ chức nghị sỹ toàn cầu chống tham nhũng (GOPAC): Dự thảo Bộ quy tắc ứng xử dành cho nghị sỹ

Một nghị sỹ không được tìm cách bảo vệ một công ty, doanh nghiệp hoặc tổ chức mà người đó có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp.

Một nghĩ sỹ không được phép  gây ảnh hưởng không chính đáng lên các quan chức chính phủ trong những trường hợp mà nghị sỹ này có lợi ích tài chính hoặc lợi ích gián tiếp.

Một nghị sỹ không được nhận bất kỳ một khoản thù lao nào từ một cá nhân hoặc tổ chức cho bất kỳ một công việc nào mà nghị sỹ đó mong muốn hoặc đề nghị làm nhân danh tổ chức hoặc cá nhân này.

Một nghị sỹ không được hành động nhân danh cử tri của mình dựa trên những sự việc không được kiểm chứng.

Một nghị sỹ không được viết thư giới thiệu hoặc nói chuyện với các quan chức chính phủ về hợp đồng kinh doanh hoặc công việc nào đó có quan hệ với nghị sỹ này.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK