TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC KIỂM TRA, THANH TRA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Cập nhật : 11:55 - 02/11/2010

Hiện nay trên thế giới, với đặc điểm tình hình kinh tế chính trị xã hội rất khác nhau của nhiều quốc gia, có rất nhiều mô hình tổ chức Nhà nước và kiểu pháp luật khác nhau. Dù quyền lực nhà nước ở mỗi nước được tổ chức theo mô hình tam quyền phân lập hoặc theo nguyên tắc tập quyền  hoặc theo mô hình nào khác thì nhìn chung các nhà nước đều không chỉ ban hành ra hệ thống pháp luật để quản lý xã hội mà còn phải thường xuyên tiến hành giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật. Do sự phát triển kinh tế xã hội, các quan hệ ngày càng đa dạng và phức tạp nên phạm vi hoạt động và chức năng của các cơ quan nhà nước được mở rộng. Vì vậy xu hướng lạm quyền, lộng quyền ở các cơ quan, nhất là cơ quan hành pháp bộc lộ và phát triển mạnh mẽ. Những hoạt động mang tính chất kiểm tra, giám sát là những hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước và đồng thời cũng là những hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước, nhằm bảo đảm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và thống nhất. Đây là những hoạt động mang tính tất yếu khách quan của tất cả các nhà nước. Để giám sát, kiểm tra hoạt động của các cơ quan Nhà nước nhằm bảo đảm sự tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, các nước thiết lập cơ chế kiểm tra, thanh tra, giám sát bằng việc thành lập các cơ quan chức năng đặt ở những vị trí nhất định trong bộ máy Nhà nước. Do yêu cầu của hoạt động quản lý, truyền thống pháp lý, đặc điểm về kinh tế chính trị xã hội mà mỗi quốc gia có thành lập cơ quan kiểm tra, thanh tra khác nhau. Căn cứ vào vị trí, đặc điểm, tính chất hoạt động, nhiệm vụ, quyền hạn có thể phân chia thành các mô hình như sau:

- Thanh tra Quốc hội

- Thanh tra, giám sát hành chính

- Thanh tra, kiểm tra trong các cơ quan hành pháp

THANH TRA QUỐC HỘI

Đây là mô hình thanh tra khá phổ biến ở các nước trên thế giới, điển hình là các nước ở Bắc Âu và châu Mỹ. Nhìn chung các quốc gia này đều có nền kinh tế phát triển, bộ máy Nhà nước, hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh, chính qui, hiện đại. Xuất phát từ quan điểm cho rằng tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, Quốc hội- cơ quan dân cử đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân có quyền giám sát tất cả hoạt động của các cơ quan Nhà nước, nhằm bảo đảm cho các cơ quan công quyền hoạt động khách quan, đúng pháp luật, mọi quyền và lợi ích của công dân phải được tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Vì vậy, cơ quan Thanh tra Quốc hội được thiết lập. Trong thực tiễn hoạt động Thanh tra Quốc hội đã phát huy được vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện quyền giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước.

 Về tổ chức:

Thanh tra Quốc hội thuộc cơ quan quyền lực cao nhất, được tổ chức gọn nhẹ độc lập với cơ quan Nhà nước (hành pháp và tư pháp). Nhiều nước quy định đó là tổ chức phi chính trị, các thành viên phải trung lập với các đảng phái. Vì vậy, trong hoạt động đảm bảo tính khách quan, vô tư không bị chi phối bởi ảnh hưởng của các cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị. Chủ tịch cơ quan Thanh tra Quốc hội và Thanh tra viên do Quốc hội bầu, nhiệm kỳ là 4 năm. Thanh tra viên là những người có trình độ, năng lực, có phẩm chất và nghiệp vụ cao. Họ là những người có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động quản lý, thâm niên làm việc trong các cơ quan pháp luật. Thanh tra viên Quốc hội có những quyền hạn nhất định để hoàn thành các nhiệm vụ được giao, được hưởng chế độ cao và không bị bãi nhiệm khi chưa có lý do chính đáng. Trong quá trình thực thi nhiệm vụ được sử dụng nhiều trợ lý, cộng tác viên, chuyên gia giúp việc, khi cần thiết được yêu cầu cơ quan chức năng phối hợp, giúp đỡ.

 Chức năng, nhiệm vụ:

Thanh tra Quốc hội nhìn chung có những chức năng, nhiệm vụ cơ bản sau đây:

- Giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước (Thanh tra Quốc hội bảo đảm cho các Tòa án và các cơ quan hành chính trong quá trình thực thi nhiệm vụ phải tuân theo các quy định của Hiến pháp về tính khách quan và công bằng, về các quyền của công dân không bị xâm hại bởi hoạt động hành chính công).

- Giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các hành vi sai trái của các cơ quan Nhà nước, công chức Nhà nước.

- Tiến hành thanh tra các cơ quan Nhà nước, các tổ chức được Nhà nước trao quyền trong các hoạt động nhằm bảo đảm việc tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh.

- Điều tra các vụ việc tham nhũng, tiêu cực, việc làm sai trái của cơ quan Nhà nước, công chức Nhà nước. Trong trường hợp cần thiết có quyền khởi tố vụ án nếu phát hiện công chức Nhà nước trong thực thi nhiệm vụ đã vi phạm pháp luật hình sự hoặc xâm phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

 Quyền hạn

Trong quá trình thanh tra, điều tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, Thanh tra Quốc hội có quyền :

- Thanh tra trụ sở của cơ quan Nhà nước vào bất cứ thời điểm nào;

-Yêu cầu cơ quan có liên quan cung cấp các thông tin, tài liệu hoặc điều tra những vấn đề có liên quan đến vụ việc;

- Áp dụng các biện pháp cần thiết để phục vụ việc điều tra;

- Thẩm vấn và kiểm tra tài sản, thu thập bất cứ người nào mà Thanh tra Quốc hội cho rằng họ có thể cung cấp những thông tin cần thiết;

- Tiếp cận thường xuyên các văn bản tài liệu trong hoạt động của Tòa án, các cơ quan thực thi quyền lực công, ngay cả khi tài liệu đó được coi là bí mật.

Khi tiến hành điều tra một vụ việc phát sinh từ khiếu nại, tố cáo, nếu phát hiện hoặc có những lý do cho rằng một viên chức Nhà nước thuộc quyền giám sát của Thanh tra Quốc hội đã phạm tội hình sự trong thực thi nhiệm vụ, thì Thanh tra viên có quyền tiến hành điều tra sơ bộ giống như một ủy viên công tố và đương nhiên hoạt động đó phải tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Nếu có căn cứ cho rằng đã có tội phạm xảy ra, Thanh tra viên có quyền quyết định khởi tố vụ án hình sự trong phạm vi thẩm quyền mà pháp luật quy định.

Trong quá trình hoạt động nếu gặp sự chống đối hoặc cản trở của đối tượng, trong phạm vi thẩm quyền, Thanh tra viên có quyền ra quyết định phạt tiền và áp dụng các biện pháp xử lý khác.

Kết thúc giai đoạn điều tra, thanh tra hoặc trong quá trình điều tra, thanh tra, Thanh tra Quốc hội có thể trao đổi với cơ quan Nhà nước có liên quan những phương pháp để giải quyết vụ việc. Nếu đã đủ căn cứ là cơ sở để kết luận thì trước khi làm báo cáo kết luận, Thanh tra Quốc hội phải thông báo cho cơ quan Nhà nước có liên quan biết về căn cứ, cơ sở của việc kết luận đó và tạo điều kiện để cơ quan hoặc những người có liên quan phản hồi ý kiến.

Kết luận của Thanh tra Quốc hội có thể gồm các nội dung sau:

- Kết luận về những sai phạm của cơ quan Nhà nước, công chức Nhà nước;

- Đề nghị xử lý kỷ luật đối với các công chức vi phạm, đề nghị truy tố hình sự nếu có hành vi vi phạm pháp luật hình sự, trong trường hợp cần thiết có quyền ra quyết định điều tra, khởi tố vụ án;

- Kết luận về các vấn đề liên quan đến khiếu nại, tố cáo của công dân;

- Kiến nghị các biện pháp giải quyết, sửa chữa, khắc phục những sai phạm, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật không đúng, chấn chỉnh các hoạt động lệch lạc của các cơ quan Nhà nước và công chức Nhà nước.

Khi đưa ra các khuyến nghị, Thanh tra Quốc hội có quyền yêu cầu các cơ quan Nhà nước thông báo cho mình biết về kết quả thực hiện các khuyến nghị đó. Trong trường hợp không được thực hiện Thanh tra Quốc hội có thể làm báo cáo gửi Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và công bố công khai trước công luận. Hàng năm Thanh tra Quốc hội phải làm báo cáo về hoạt động của mình, trong đó nêu lên những sơ hở, yếu kém khuyết điểm trong quản lý, các hiện tượng tham nhũng, tiêu cực và đưa ra các giải pháp khắc phục, sửa chữa.

Phần II: Thanh tra, giám sát hành chính

 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK