Thủ tục và nguyên tắc thảo luận, tranh luận tại Hội trường ở nghị viện các nước
Cập nhật : 11:55 - 02/11/2010

        

    Nguyên tắc thảo luận, tranh luận

Trước hết, tất cả các nghị sỹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong quá trình thảo luận, các quy tắc về thủ tục thảo luận phải được thực hiện một cách không thiên vị. Mọi thành viên trong cơ quan lập pháp đều bình đẳng với nhau. Sự bình đẳng được đảm bảo bởi thủ tục và nội quy hoạt động của nghị viện trong các lĩnh vực như: đăng ký phát biểu, thời lượng hạn chế, điều hành thảo luận, quyền kiến nghị, quyền biểu quyết... Sự bình đẳng đặc biệt thể hiện rõ qua điều hành thảo luận dựa trên những quy tắc chặt chẽ mà nghị viện đồng thuận, không dựa trên quyền quyết định tại chỗ của người điều hành. Sự bình đẳng được đảm bảo trong mọi thủ tục: kiến nghị, thảo luận, bỏ phiếu... Điều này hạn chế tối đa sự thiên vị, bảo đảm quyền phát biểu chính kiến, tranh luận, các luồng ý kiến khác nhau phải có cơ hội thể hiện, đồng thời tránh trùng lắp, tuân thủ chương trình và thời gian nghị sự mà nghị viện đã quyết định ngay từ đầu mỗi kỳ họp.

Một nguyên tắc quan trọng khác là số lượng nghị sỹ cần thiết phải có mặt để các cuộc thảo luận có giá trị. Liên quan đến thảo luận, nguyên tắc quyết định theo đa số thể hiện trên phương diện sau: số lượng đại biểu tối thiểu cần thiết (quorum) có mặt tại phiên họp để có thể bắt đầu cuộc thảo luận và biểu quyết. Yêu cầu này rất quan trọng bởi vì khó mà chấp nhận rằng một đạo luật, được xem là ý chí của toàn dân, mà chỉ được một số rất nhỏ nghị sỹ tham gia thảo luận và quyết định.

Đặc biệt, vị chủ tọa phải điều khiển phiên họp một cách công bằng và thẳng thắn. Chính các yêu cầu về sự bình đẳng, dân chủ, giải trình, hiệu quả giải thích tại sao các vị Chủ tịch Viện và Chủ nhiệm Ủy ban ở các nước lại có nhiều quyền về thủ tục như vậy với tư cách chủ tọa: cần có một người đứng ra điều hành tiến trình công việc, theo dõi sự tuân thủ tiến trình, bảo đảm trật tự trong tiến trình đó. Họ có những quyền như: quyết định thứ tự phát biểu (ở những nước có quy định về việc đăng ký trước danh sách những đại biểu sẽ phát biểu); quyền đề nghị đại biểu chấm dứt hay tiếp tục phát biểu; quyết định tạm ngừng hay kết thúc phiên họp có tiếng nói quyết định cuối cùng về những tranh luận liên quan đến thủ tục...

Ngoài ra, thủ tục thảo luận tại nghị trường tuân theo các nguyên tắc khác như: các cuộc thảo luận phải được tiến hành trên cơ sở một thủ tục được xác định rõ ràng; quyền bàn luận một cách đầy đủ và tự do là một quyền cơ bản trong khi tiến hành thảo luận; chỉ được phép có một vấn đề được thảo luận vào bất kỳ thời điểm nào khi tiến hành phiên họp; vào bất kỳ thời điểm nào, các nghị sỹ cũng có quyền được biết vấn đề gì đang được xem xét; và vấn đề đó cần phải nhắc lại trước khi cuộc biểu quyết được thực hiện (tuy nhiên, một nghị sỹ không được phép hỏi quá nhiều về vấn đề này vì như vậy thể hiện sự lơ là trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình); không nghị sỹ nào được phép phát biểu nếu chưa được phép của Chủ tọa phiên thảo luận; không ai được phép phát biểu lần thứ hai vào cùng một vấn đề khi đang có người khác muốn thực hiện bài phát biểu của mình vào vấn đề đó.

Thủ tục thảo luận

Các cuộc thảo luận thường bắt đầu bằng thủ tục điểm danh để xác định túc số cần thiết cho các cuộc thảo luận của nghị viện, chẳng hạn 2/3 tổng số nghị sỹ, nếu không có đủ số lượng này thì thời điểm bắt đầu phiên họp phải hoãn lại đến khi điểm danh đủ túc số. Kiến nghị kiểm tra túc số của phiên họp có thể được các nghị sỹ nêu lên vào bất cứ lúc nào trong thời gian diễn ra phiên họp. Trong trường hợp này, nội quy nghị viện một số nước quy định phải dừng ngay phiên thảo luận để tiến hành điểm danh kiểm tra túc số.

Theo thủ tục phát biểu, thông thường các yêu cầu phát biểu tại phiên thảo luận của nghị viện được gửi trước để Chủ tịch nghị viện mời phát biểu theo thứ tự ghi tên. Tuy nhiên, trong phòng họp khi tiến hành thảo luận, các nghị sỹ cũng có thể phát biểu ý kiến bằng cách giơ tay. Nhưng những người chưa gửi yêu cầu phát biểu đến trước cho Chủ tịch nghị viện thì không được phép phát biểu cho tới khi những người đăng ký trước đã phát biểu hết. Chủ toạ phiên họp sẽ ưu tiên cho nghị sỹ nào giơ tay trước được phép phát biểu trước. Nếu có nhiều người cùng giơ tay một lúc, Chủ tịch Nghị viện sẽ ghi tên của những người này và toàn quyền xếp đặt thứ tự phát biểu ý kiến, với mục đích làm sao cho sự trình bày các ý kiến được mạch lạc và tạo ra sự đối thoại giữa các lập trường khác biệt đối với vấn đề đang tranh luận. Song, cũng có một nguyên tắc bắt buộc là trong cuộc thảo luận của nghị viện không được có những cuộc đối thoại trực tiếp giữa hai hay nhiều nghị sỹ. Quy tắc này được quy định để hạn chế sự căng thẳng trong quá trình thảo luận ở nghị trường.

Nhằm tránh sự lạm dụng quyền phát biểu để thực hiện những mưu đồ chính trị riêng, Nội quy của Nghị viện nhiều nước có những quy định mang tính hạn chế quyền phát biểu của nghị sỹ bằng các biện pháp như: Hạn chế số lần phát biểu của nghị sỹ về một vấn đề, ví dụ mỗi nghị sĩ chỉ được phát biểu tối đa ba lần về một vấn đề, hay trong một buổi họp; hạn chế thời gian của mỗi lần phát biểu, ví dụ không quá 5 phút trong một lần; hạn chế về phạm vi phát biểu- các phát biểu tại cuộc thảo luận phải có liên quan trực tiếp đến những vấn đề đang thảo luận.

Trong cuộc tranh luận, Chủ tịch Nghị viện không được tham gia trực tiếp vì nhiệm vụ của ông ta là chủ toạ phiên họp và đảm bảo cuộc thảo luận diễn ra theo đúng Nội quy mà nghị viện đã định. Song, để đảm bảo quyền tham gia vào các quyết định của nghị viện của Chủ tịch Nghị viện được phép rời bỏ vị trí chủ toạ của mình để ngồi vào ghế nghị sỹ của mình và tham gia tranh luận. Trong trường hợp này, chủ toạ phiên họp sẽ là một Phó chủ tịch Nghị viện, hoặc người có thâm niên làm nghị sỹ lâu nhất, hoặc người lớn tuổi nhất của nghị viện.

Vào bất cứ lúc nào trong một cuộc thảo luận, một nghị sĩ nào nhận thấy nội quy bị vi phạm hay không được áp dụng, cũng có quyền đứng lên nêu vấn đề ngay, không phải đợi Chủ tịch mời phát biểu ý kiến .

Một cuộc thảo luận được kết thúc để đi đến biểu  quyết khi tất cả nghị sỹ ghi tên đã lần lượt lên tiếng. Tuy nhiên, Chủ tịch Nghị viện vẫn có thể đề nghị biểu quyết kết thúc cuộc thảo luận trước thời điểm này khi nhận được kiến nghị này của một lượng nghị sỹ nhất định (thông thường chỉ cần 5 nghị sỹ nêu lên kiến nghị này). Cuộc thảo luận sẽ kết thúc nếu kiến nghị chấm dứt thảo luận nhận được sự đồng ý của một đa số các nghị sỹ tham gia thảo luận.

 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK