Hội đồng Liên bang Nga và quy trình xem xét dự án luật
Cập nhật : 11:55 - 02/11/2010

Trình tự xem xét dự án luật tại Hội đồng Liên bang đơn giản hơn nhiều so với trình tự xem xét dự án luật tại Đuma Quốc gia. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là Hội đồng Liên bang có phần lớn các thành viên còn hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm. Theo quy định tại Ðiều 105 và Ðiều 106 của Hiến pháp Liên bang nga năm 1993, vai trò của Hội đồng Liên bang trong quy trình lập pháp là xem xét, thông qua các dự án luật do Đuma Quốc gia đệ trình. Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả trong hoạt động lập pháp, Hiến pháp cũng quy định nếu trong vòng 14 ngày, Hội đồng Liên bang không xem xét thông qua các dự án luật do Đuma Quốc gia đệ trình thì dự án luật đó được mặc nhiên coi là đã được Hội đồng Liên bang thông qua (trừ các dự án về đạo luật Hiến pháp của Liên bang và dự án luật về ngân sách liên bang, các khoản thuế và lệ phí của Liên bang; chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng và thuế quan; về việc chuẩn chi ngân sách; phê chuẩn, từ bỏ các công ước quốc tế của Liên bang; về tình trạng biên giới, về việc bảo vệ biên giới của Liên bang, về các vấn đề liên quan đến chiến tranh và hòa bình).

Theo quy chế hoạt động hiện tại của Hội đồng Liên bang, trong kỳ họp của mình, Hội đồng Liên bang họp ba tuần một lần. Các phiên họp toàn thể được tiến hành từ Thứ Ba đến Thứ Năm hàng tuần. Lịch làm việc này tạo ra khó khăn cho Hội đồng Liên bang trong việc xem xét các dự án luật do Đuma Quốc gia đệ trình và do vậy trong nhiều trường hợp Hội đồng Liên bang không thể hoàn thành việc xem xét dự luật trong vòng 14 ngày kể từ khi nhận được dự luật từ Đuma Quốc gia. Trên thực tế, để giải quyết tình trạng này, Hội đồng Liên bang đã đưa ra giải pháp sửa đổi Hiến pháp để kéo dài thêm thời gian cho phép Hội đồng Liên bang xem xét các dự án luật. Tuy nhiên, giải pháp này không tìm được sự đồng thuận từ phía Đuma Quốc gia.

Việc xem xét dự án luật của Hội đồng Liên bang có thể đi đến kết quả là Hội đồng Liên bang thông qua dự án luật hoặc Hội đồng Liên bang bác bỏ dự án luật. Dự án luật được Hội đồng Liên bang thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên của Hội đồng Liên bang biểu quyết tán thành trong trường hợp là dự luật về đạo luật của Liên bang, hoặc khi có hơn ba phần tư tổng số thành viên của Hội đồng Liên bang biểu quyết tán thành trong trường hợp là dự luật về đạo luật Hiến pháp của Liên bang.

Sau khi dự án luật đã được Hội đồng Liên bang chính thức thông qua hoặc được coi là mặc nhiên thông qua, dự án luật sẽ được chuyển sang giai đoạn trình lên Tổng thống Liên bang để xem xét, phê chuẩn. Trường hợp ngược lại, dự án luật không được Hội đồng Liên bang thông qua thì dự luật cùng kết luận của Hội đồng Liên bang sẽ được chuyển lại cho Đuma Quốc gia để xem xét lại.

Xem xét lại các đạo luật liên bang bị Hội đồng liên bang bác bỏ

Sau khi nhận lại dự luật bị Hội đồng Liên bang bác bỏ, Hội đồng Đuma Quốc gia sẽ chuyển cho Uỷ ban đã thẩm tra dự luật tiến hành xem xét lại dự luật cùng với kết luận của Hội đồng Liên bang. Dựa trên kiến nghị của Uỷ ban thẩm tra, Đuma Quốc gia có thể đưa ra một trong các kết luận:

Thứ nhất: Rút đạo luật liên bang khỏi chương trình xem xét lại của Đuma Quốc gia; Thứ hai: Thành lập Uỷ ban hỗn hợp để khắc phục những điểm bất đồng; Thứ ba: Thông qua đạo luật liên bang theo bản trước đây đã được Đuma Quốc gia thông qua; Trong trường hợp thứ nhất, kết luận của Đuma Quốc gia đơn giản là bác bỏ dự luật, dự luật được chuyển lại cho chủ thể đã đệ trình. Ðối với trường hợp thứ hai, một Uỷ ban hỗn hợp sẽ được thành lập có thành viên bao gồm các đại biểu Đuma Quốc gia và các thành viên của Hội đồng liên bang. Việc thành lập, bầu các đại biểu của mỗi viện, bầu đồng Chủ tịch của Uỷ ban Hỗn hợp do mỗi viện quyết định mà thông thường là dựa trên kiến nghị của Uỷ ban có trách nhiệm thẩm tra dự án luật tương ứng của mỗi bên. Quyết định thành lập đoàn đại biểu của mỗi viện sẽ được gửi đến các chủ thể có quyền trình dự án luật khác như Tổng thống Liên bang Nga, Chính phủ Liên bang Nga, nếu dự luật có liên quan đến thẩm quyền của những chủ thể này. Các đại biểu Đuma Quốc gia, thành viên của Hội đồng Liên bang không phải là thành viên của Uỷ ban hỗn hợp cũng có thể tham gia các phiên họp của Uỷ ban hỗn hợp với tư cách đại biểu dự thính.

Khi xem xét dự án luật, Uỷ ban hỗn hợp xem xét riêng từng điểm phản đối của Hội đồng liên bang và cố gắng thảo ra văn bản thống nhất cho dự án luật liên bang. Uỷ ban hỗn hợp cũng có thể quyết định sửa đổi lời văn của những điều khoản khác trong dự thảo luật liên bang mà Hội đồng liên bang không có ý kiến phản đối, nếu sự sửa đổi đó là cần thiết để phù hợp với những điểm sửa đổi, bổ sung theo đề nghị của Hội đồng liên bang và được Uỷ ban hỗn hợp ủng hộ. Các quyết định của Uỷ ban hỗn hợp được hai đoàn đại biểu của Đuma Quốc gia và Hội đồng liên bang biểu quyết riêng biệt. Quyết định được coi là thông qua nếu được đa số của mỗi đoàn biểu quyết đồng ý. Trong các phiên họp của Uỷ ban hỗn hợp, việc ghi biên bản diễn tiến phiên họp cũng được chú ý như đối với các phiên họp của Đuma Quốc gia hay của Hội đồng Liên bang. Ðây là tài liệu cơ bản để Đuma Quốc gia và Hội đồng Liên bang tiến hành xem xét dự luật ở các bước tiếp theo và cũng là một phần tài liệu quan trọng được sử dụng trong quá trình giải thích các đạo luật liên bang sau này. Biên bản các phiên họp của Uỷ ban hỗn hợp, dự thảo luật đã Uỷ ban hỗn hợp biểu quyết thông qua sẽ được gửi đến mỗi viện để xem xét lại dự án luật. Việc xem xét lại dự luật ở mỗi viện chỉ tập trung vào những kiến nghị sửa đổi được ghi trong biên bản của Uỷ ban hỗn hợp mà không xem xét thêm các phương án sửa đổi, bổ sung nào khác. Trong trường hợp cả hai viện đều đồng ý thông qua dự án luật theo kiến nghị của Uỷ ban hỗn hợp, dự thảo luận được coi là đã được Nghị viện Liên bang thông qua và được chuyển cho Tổng thống Liên bang xem xét, phê chuẩn. Trường hợp ngược lại, nếu Đuma Quốc gia hoặc Hội đồng Liên bang không đồng ý thông qua bất kỳ một kiến nghị sửa đổi, bổ sung nào của Uỷ ban Hỗn hợp thì đều có thể đề nghị Uỷ ban tiếp tục công việc tìm kiếm các giải pháp chung cho dự luật nhưng có tính đến những điểm sửa đổi, bổ sung mà mỗi Viện có thể đưa ra. Trình tự công việc của Uỷ ban Hỗn hợp và việc xem xét lại dự luật của mỗi viện lại được lặp lại như trên cho đến khi cả hai viện đều nhất trí thông qua một bản dự thảo luật thống nhất.

Tuy vậy, trên thực tế lập pháp của Nghị viện Liên bang Nga thời gian qua cho thấy kết quả này thường ít khi xảy ra. Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng này là do ý chí chính trị của các thành viên Hội đồng Liên bang và các đại biểu Đuma Quốc gia thường không giống nhau: trong khi ở Đuma Quốc gia đảng của những người cộng sản thường chiếm đa số thì ở Hội đồng Liên bang, đa số thành viên đến từ cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp của các chủ thể liên bang chịu ảnh hưởng rất lớn của Tổng thống Liên bang. Khi không có sự đồng thuận giữa hai viện, Đuma Quốc gia có quyền đi đến chung quyết dự luật theo phương án của mình mà không cần quan tâm đến sự phản đối của Hội đồng Liên bang. Theo khoản 5, Ðiều 105 của Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993, trong trường hợp Đuma Quốc gia không đồng ý với quyết định của Hội đồng liên bang, dự án luật được coi là đã được Nghị viện Liên bang thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Đuma Quốc gia biểu quyết thông qua. Từ thực tế này và qua các quy định của Hiến pháp, Hội đồng Liên bang Nga được nhận xét vừa là “viện xét lại chứ không phải là viện lập pháp” đối với Đuma Quốc gia và cũng là “viện con dấu” (Rubber Stamp) của Tổng thống Liên bang Nga.

Sau khi dự luật đã được Nghị viện Liên bang thông qua, Chủ tịch Đuma Quốc gia có trách nhiệm chuyển dự luật liên bang cho Tổng thống liên bang Nga để xem xét, công bố trong khoảng thời gian là 5 ngày, kể từ ngày dự án luật được chính thức thông qua. Chủ tịch Đuma Quốc gia cũng có trách nhiệm thông báo cho Chủ tịch Hội đồng liên bang về việc chuyển đạo luật liên bang tới Tổng thống Liên bang Nga.

Xem xét lại những đạo luật liên bang bị Tổng thống Liên bang Nga phủ quyết

Khi dự luật đã được Nghị viện Liên bang thông qua được chuyển đến Tổng thống, trong vòng 14 ngày kể từ khi nhận được dự luật, Tổng thống có thể công bố đạo luật liên bang hoặc có thể bác bỏ dự luật để chuyển lại cho Nghị viện Liên bang xem xét lại. Nếu Tổng thống phê chuẩn dự luật và công bố đạo luật liên bang, dự án luật sẽ được công bố trên Công báo quốc gia và chính thức trở thành đạo luật của liên bang. Ðến thời điểm này, quy trình lập pháp đối với dự án luật được coi là kết thúc thành công.

Trong trường hợp ngược lại, dự án luật và quyết định bác bỏ dự án luật của Tổng thống sẽ được chuyển trở về cho Đuma Quốc gia để bắt đầu quá trình xem xét lại dự án luật. Việc xem xét lại dự án luật trong giai đoạn này cũng được bắt đầu bằng việc xem xét của Uỷ ban có trách nhiệm thẩm tra dự luật trong vòng 10 ngày. Sau khi có kết luận của Ủy ban thẩm tra, Đuma Quốc gia sẽ tiến hành phiên họp toàn thể để xem xét, đi đến các quyết định tiếp theo đối với dự luật. Thời điểm tiến hành xem xét lại dự án luật liên bang đã bị Tổng thống Liên bang bác bỏ sẽ được thông báo cho Tổng thống Liên bang Nga không muộn hơn 3 ngày trước

khi tiến hành phiên họp.

Phiên họp xem xét lại dự án luật của Đuma Quốc gia được bắt đầu bằng lời phát biểu của đại diện toàn quyền của Tổng thống Liên bang Nga tại Đuma Quốc gia hoặc đại diện chính thức khác của Tổng thống Liên bang Nga về việc bác bỏ dự án luật của Nghị viện Liên bang. Sau đó, Uỷ ban thẩm tra trình bày kết luận của mình. Trước khi đi đến kết luận, Đuma Quốc gia có thể tiến hành thảo luận về các phương án được đề trình. Quá trình thảo luận này có điểm đặc biệt là thành phần tham gia chỉ có đại diện của các liên minh đại biểu mà không phải là toàn bộ đại biểu của Đuma Quốc gia.

Dựa trên ý kiến của Tổng thống Liên bang và đề nghị của Ủy ban thẩm tra, Đuma Quốc gia sẽ biểu quyết thông qua một trong những phương án sau: Thứ nhất: Thông qua đạo luật liên bang theo phương án mà Tổng thống Liên bang Nga đề xuất. Trong trường hợp này, dự án luật đã được chỉnh lý theo các phương án mà Tổng thống Liên bang đề xuất được Đuma Quốc gia hoàn toàn thông qua và chuyển tiếp dự án luật đến các bước xem xét tiếp theo; Thứ hai: Đồng ý với những lý do quyết định của Tổng thống Liên bang Nga và rút đạo luật liên bang khỏi chương trình tiếp theo của Đuma Quốc gia. Trường hợp này đơn giản là Đuma Quốc gia nhất trí với ý kiến của Tổng thống Liên bang về việc bác bỏ hoàn toàn dự án luật. Thứ ba: Thông qua đạo luật liên bang có tính đến những đề xuất của Tổng thống Liên bang Nga. Ðây là trường hợp Đuma Quốc gia đồng ý với một phần những đề nghị của Tổng thống Liên bang. Dự án luật cũng được Ủy ban thẩm tra và Vụ pháp luật thuộc Văn phòng Đuma Quốc gia tiến hành thẩm tra đối với các đề nghị của Tổng thống Liên bang được Đuma Quốc gia đồng ý thông qua. Thứ tư: Thành lập một tiểu ban đặc biệt để khắc phục những điểm bất đồng; đề nghị Tổng thống Liên bang Nga và trong trường hợp cần thiết đề nghị Hội đồng liên bang cử đại diện tham gia tiểu ban; Trường hợp này xảy ra khi Đuma Quốc gia, Tổng thống Liên bang còn có những điểm bất đồng về dự án luật. Tiểu ban đặc biệt sẽ dự thảo một phương án hỗn hợp của dự luật để đạt được sự đồng ý của các bên. Thứ năm: Đồng ý với phương án đã được thông qua trước đó của dự luật liên bang. Ðây được coi là sự phủ quyết lại phủ quyết của Tổng thống liên bang đối với dự luật. Với tính chất quan trọng của quyết định này, Hiến pháp Liên bang yêu cầu phải có không dưới 2/3 tổng số đại biểu Đuma Quốc gia biểu quyết thông qua.

Sau khi dự án luật bị Tổng thống Liên bang bác bỏ được xem xét lại tại Đuma Quốc gia, dự án sẽ được chuyển sang Hội đồng Liên bang để xem xét tiếp theo trình tự, thủ tục tương ứng. Riêng trong trường hợp Đuma Quốc gia vẫn biểu quyết thông qua phương án đã được thông qua trước đây với đa số 2/3 tổng số đại biểu Đuma Quốc gia biểu quyết tán thành thì để được Tổng thống Liên bang phê chuẩn và công bố thành đạo luật liên bang, dự án luật đó cũng cần phải có đa số 2/3 tổng số thành viên của Hội đồng Liên bang biểu quyết tán thành thông qua. Ðến đây, quy trình lập pháp khá phức tạp của Liên bang Nga được xem là kết thúc. Tuy nhiên, vẫn còn một vấn đề đặt ra là dự án luật sẽ được quyết định thế nào nếu trong thời hạn 14 ngày Tổng thống Liên bang không có phản ứng đối với dự án luật được chuyển đến. Ðây là một điểm hạn chế của Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 mà phương án đang được nhiều đại biểu Đuma Quốc gia kiến nghị sửa đổi là quy định trong những trường hợp như vậy Nghị viện Liên bang sẽ tiến hành công bố dự luật như một phần của quy trình lập pháp.

Quy trình sửa đổi, bổ sung các quy định của Hiến pháp Liên bang Nga

Quy trình sửa đổi, bổ sung Hiến pháp Liên bang Nga cũng được tiến hành dựa trên những nguyên tắc cơ bản của quy trình lập pháp chung đã được quy định tại Hiến pháp Liên bang và một số văn bản luật có liên quan của Liên bang. Theo Ðiều 134, Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993, những chủ thể có quyền trình các kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của Hiến pháp liên bang gồm Tổng thống Liên bang Nga, Hội đồng Liên bang, Đuma Quốc gia, Chính phủ Liên bang Nga, các cơ quan lập pháp của các chủ thể Liên bang Nga, hoặc nhóm thành viên có số lượng không dưới 1/5 tổng số thành viên của Hội đồng liên bang hoặc của Đuma Quốc gia. Riêng đối với các kiến nghị sửa đổi, bổ sung Chương 1 (về những nhân tố cơ bản của cấu trúc nhà nước), Chương 2 (về quyền và tự do cơ bản của con người và công dân) và Chương 9 (về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp) của Hiến pháp, kèm theo các kiến nghị sửa đổi cần phải có những phương án mới của các chương đó hoặc những điều, khoản cụ thể để sửa đổi, bổ sung và các lập luận bảo vệ những đề nghị sửa đổi, bổ sung đó.

Cũng như trong quy trình lập pháp, các kiến nghị sửa đổi, bổ sung Hiến pháp cũng được bắt đầu xem xét tại Đuma Quốc gia. Việc thẩm tra các kiến nghị sửa đổi, bổ sung Hiến pháp Liên bang ở Đuma Quốc gia do Ủy ban về xây dựng pháp luật và cải cách tư pháp-pháp luật của Đuma Quốc gia thực hiện. Quy trình tiếp theo đối với các kiến nghị sửa đổi, bổ sung Hiến pháp Liên bang được tiến hành tương tự như đối với quy trình lập pháp thông thường của Liên bang. Tuy nhiên, các kiến nghị này chỉ được thông qua với một đa số đặc biệt là phải có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Đuma Quốc gia và hai phần ba tổng số thành viên của Hội đồng Liên bang nhất trí thông qua.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 135 Hiến pháp Liên bang Nga, Nghị viện liên bang không có quyền sửa đổi, bổ sung những quy định trong các chương 1, 2 và 9 của Hiến pháp Liên bang Nga. Các kiến nghị về việc sửa đổi, bổ sung các chương 1, 2 và 9 của Hiến pháp Liên bang trước hết vẫn được xem xét tại Đuma Quốc gia và Hội đồng Liên bang theo trình tự, thủ tục thông thường đối với các dự án luật khác, nhưng đa số cần thiết để thông qua các quyết định là phải có ít nhất ba phần năm tổng số đại biểu Đuma Quốc gia và ba phần năm tổng số thành viên của Hội đồng Liên bang nhất trí thông qua.

Sau khi cả hai viện của Nghị viện Liên bang đồng ý với các kiến nghị về việc sửa đổi chương 1, 2 và 9 của Hiến pháp Liên bang, một Viện Lập hiến sẽ được thành lập để tiếp tục xem xét các kiến nghị sửa đổi, bổ sung. Dựa trên kết quả xem xét các kiến nghị, Viện Lập hiến có thể kết luận các kiến nghị sửa đổi các chương 1, 2 và 9 của Hiến pháp Liên bang là vi phạm Hiến pháp. Viện Lập hiến cũng có thể dự thảo một bản Hiến pháp mới. Quá trình xem xét, thông qua dự thảo đó cần phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu của Viện Lập hiến nhất trí thông qua. Trong một số trường hợp, dự thảo cần thiết phải được đưa ra trưng cầu dân ý. Khi đó, bản Hiến pháp mới được thông qua khi có quá nửa số người tham gia cuộc trưng cầu dân ý bỏ phiếu tán thành và phải có quá nửa tổng số cử tri trong cả nước tham gia cuộc trưng cầu dân ý. 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK