Thẩm tra và xem xét dự án luật lần thứ nhất tại Đuma Quốc gia Nga
Cập nhật : 11:55 - 02/11/2010

Việc xem xét, thông qua các dự án luật tại Đuma Quốc gia Nga, cũng như tại nghị viện nhiều nước khác, được thực hiện theo trình tự “ba lần đọc”. Dự luật được chính thức bước vào giai đoạn xem xét, thông qua tại Đuma Quốc gia khi được Đuma Quốc gia tiến hành lần xem xét dự luật lần thứ nhất. Với ý nghĩa đó, thời điểm tiến hành lần xem xét thứ nhất được xem như một mốc thời gian quan trọng trong tiến trình xem xét các dự án luật. Chỉ trước thời điểm này, chủ thể trình dự án luật mới có quyền sửa đổi văn bản dự luật theo đề nghị của Uỷ ban thẩm tra hoặc nộp đơn xin rút lại dự luật. Ngoài ra, trong trường hợp Đuma Quốc gia đã thông qua dự luật trong lần đọc đầu tiên mà có một dự luật khác cũng về vấn đề đó được chuyển đến, dự luật được chuyển đến sau sẽ không được Đuma Quốc gia xem xét vì lý do Đuma Quốc gia đã tiến hành lần xem xét thứ nhất đối với một dự luật tương tự. Và do vậy, hàng quý Văn phòng Đuma Quốc gia phải tiến hành thông báo cho tất cả các chủ thể sáng quyền lập pháp về những dự luật đã được gửi đến cho Đuma Quốc gia, thông báo về tình trạng xem xét, thẩm tra các dự luật tại Đuma Quốc gia mà trong đó bao gồm cả thông tin về kết luận của Chính phủ Liên bang Nga, kết quả xem xét các đạo luật đã được Đuma Quốc gia thông qua tại Hội đồng liên bang và bởi Tổng thống Liên bang Nga.

Thẩm tra và lần xem xét thứ nhất

Sau khi vượt qua bước kiểm tra sơ bộ, dự luật sẽ được xem xét, đưa vào chương trình làm việc của Đuma Quốc gia. Việc xác định trình tự chuẩn bị dự án luật và chương trình lập pháp của dự luật có vai trò rất lớn của các Ủy ban thẩm tra dự án luật trong Đuma Quốc gia. Dựa trên nội dung của dự luật, Ủy ban thẩm tra sẽ chủ động chuyển các dự luật đến các Ủy ban và các tiểu ban có liên quan, đến liên minh các đại biểu, Tổng thống Liên bang, Hội đồng liên bang, Chính phủ Liên bang, Tòa án Hiến pháp Liên bang, Tòa án Tối cao Liên bang và Tòa án trọng tài Tối cao Liên bang về những vấn đề thuộc thẩm quyền của những cơ quan đó để chuẩn bị và trình bày nhận xét, kiến nghị. Riêng đối với các dự án luật thuộc thẩm quyền chung của Liên bang và Chủ thể liên bang được quy định tại Ðiều 72 của Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 thì dự án luật còn phải chuyển đến cơ quan lập pháp của các chủ thể liên bang để các cơ quan này nhận xét và đưa ra các kiến nghị. Thời hạn gửi lại kết luận, nhận xét, kiến nghị đối với dự luật (trừ các ý kiến kết luận của Chính phủ Liên bang) do Ủy ban thẩm tra tự xác định nếu Hội đồng Đuma Quốc gia không có quyết định khác. Ngoài ra, theo quyết định của Uỷ ban, dự luật cùng với công văn kèm theo có chữ ký của Chủ nhiệm Uỷ ban có thể được gửi đến các cơ quan nhà nước, những tổ chức khác tham khảo ý kiến nhận xét, kiến nghị, hoặc để tiến hành thẩm định khoa học.

Để xem xét, chuẩn bị dự luật, Uỷ ban có thể thành lập tổ công tác trong số các đại biểu Đuma Quốc gia là thành viên của Uỷ ban. Thành phần của tổ công tác cũng có thể bao gồm các đại biểu Đuma Quốc gia không phải là thành viên của Uỷ ban, đại diện của chủ thể sáng quyền lập pháp, cũng như đại diện của các cơ quan quyền lực nhà nước, các tổ chức khác, các chuyên gia. Uỷ ban sẽ chỉ định một báo cáo viên trong số các thành viên của Uỷ ban để điều phối hoạt động của các thành viên tổ công tác, các tổ chức và cá nhân có quan tâm, báo cáo về kết quả công việc chuẩn bị văn bản dự luật trong phiên họp của Uỷ ban.

Các cuộc thảo luận về dự luật tại các Uỷ ban của Đuma Quốc gia được tiến hành công khai và có thể được tường thuật trên các phương tiện thông tin đại chúng. Trong phiên họp này, Ủy ban Đuma Quốc gia có thể mời đại diện của chủ thể sáng quyền lập pháp của dự luật. Các đại biểu Đuma Quốc gia không phải là thành viên của Uỷ ban thẩm tra, các thành viên của Hội đồng liên bang, đại diện toàn quyền của Tổng thống Liên bang Nga tại Đuma Quốc gia, đại diện toàn quyền của Chính phủ Liên bang Nga tại Đuma Quốc gia, đại diện của các cơ quan lập pháp (cơ quan đại diện) của các chủ thể Liên bang Nga, cũng như đại diện của các cơ quan nhà nước, các tổ chức khác là những chủ thể mà dự luật được gửi đến để góp ý, nhận xét, kiến nghị cũng có quyền tham dự phiên họp xem xét dự luật với tư cách dự thính các phiên họp thảo luận về dự luật của Uỷ ban có trách nhiệm.

Bên cạnh Ủy ban thẩm tra, Vụ pháp luật thuộc Văn phòng Đuma Quốc gia cũng có một vai trò nhất định trong việc chuẩn bị dự luật để Đuma Quốc gia xem xét, thông qua. Theo chỉ thị của Hội đồng Đuma Quốc gia hoặc Uỷ ban thẩm tra, Vụ pháp luật thực hiện việc thẩm tra pháp lý đối với dự luật về sự phù hợp với Hiến pháp Liên bang Nga, các đạo luật hiến pháp liên bang, các đạo luật liên bang, các văn bản pháp luật ngành, cũng như rà soát lại danh sách các văn bản pháp luật liên bang mất hiệu lực, ngừng hiệu lực, sửa đổi, bổ sung hoặc cần thông qua liên quan đến việc thông qua dự luật nói trên. Uỷ ban thẩm tra cũng có thể giao cho Vụ pháp luật tiến hành thẩm tra về mặt ngôn ngữ đối với dự luật. Ðể tăng hiệu quả làm việc của Nghị viện Liên bang và khẳng định trách nhiệm của Vụ pháp luật Đuma Quốc gia trong việc thẩm tra dự án luật, Quy chế hoạt động của Đuma Quốc gia đặt ra những yêu cầu rất cụ thể đối với Báo cáo thẩm tra của Vụ pháp luật. Theo quy định này, Báo cáo thẩm tra của Vụ pháp luật Đuma Quốc gia phải trả lời được những câu hỏi sau:

Thứ nhất: Dự luật có phù hợp với Hiến pháp Liên bang Nga, với các đạo luật hiến pháp liên bang, đạo luật liên bang, những văn bản pháp luật ngành chủ yếu hay không? Nếu trong Báo cáo thẩm tra có xác định sự không tương thích giữa dự luật với Hiến pháp Liên bang Nga, các đạo luật hiến pháp liên bang, các đạo luật liên bang, các văn bản pháp luật ngành, thì cần phải chỉ rõ dự luật không phù hợp với văn bản pháp luật nào và sự không phù hợp thể hiện cụ thể như thế nào?;

Thứ hai: Cơ cấu của dự luật có phù hợp hay không, có sự mâu thuẫn giữa các phần, các chương, các điều, các khoản của dự luật hay không? Nếu có những mâu thuẫn như vậy thì Báo cáo thẩm tra cần phải được chỉ rõ và phải đưa ra những đề xuất xử lý các mâu thuẫn đó;

Thứ ba: Danh sách các văn bản pháp luật liên bang bị mất hiệu lực, ngừng hiệu lực, sửa đổi, bổ sung hoặc cần thông qua liên quan đến việc thông qua dự luật đó có đầy đủ hay không? Nếu danh sách không đủ thì cần phải chỉ ra những văn bản pháp luật chưa nêu tên.

Việc thẩm tra dự án luật của Vụ pháp luật thuộc Văn phòng Đuma Quốc gia phải được hoàn thành trong khoảng thời gian do Hội đồng quốc gia hoặc Ủy ban thẩm tra quy định. Tuy nhiên, thời hạn này cũng có thể được Hội đồng Đuma Quốc gia gia hạn thêm theo đề nghị của Vụ pháp luật tùy theo điều kiện thực tế và mức độ phức tạp của dự án luật. Sau khi Ủy ban chịu trách nhiệm thẩm tra dự luật và Vụ pháp luật thuộc Văn phòng Đuma Quốc gia đã hoàn thành những công việc của mình, Hội đồng Đuma Quốc gia sẽ quyết định việc đưa dự luật vào chương trình lập pháp của Đuma Quốc gia dựa trên đề nghị của Ủy ban thẩm tra. Ðến lúc này, dự án luật được chuyển sang giai đoạn xem xét, thông qua dự án luật tại Đuma Quốc gia.

Phục vụ cho lần xem xét thứ nhất, Ủy ban thẩm tra và Văn phòng Đuma Quốc gia cần phải gửi những tài liệu đã được hoàn thành trong quá trình chuẩn bị dự án luật đến Tổng thống liên bang Nga, Hội đồng Liên bang, các đại biểu Đuma Quốc gia, Chính phủ Liên bang Nga và chủ thể trình dự luật không muộn hơn ba ngày trước ngày tiến hành lần xem xét thứ nhất của Đuma Quốc gia.

Những tài liệu thường được gửi kèm theo dự án luật để chuẩn bị cho lần xem xét thứ nhất bao gồm: 1) Tờ trình về dự luật; 2) Dự thảo dự luật (có đề rõ chủ thể sáng quyền lập pháp đưa ra dự luật);3) Danh sách các văn bản pháp luật liên bang sẽ mất hiệu lực, ngưng hiệu lực, cần sửa đổi, bổ sung hoặc phải thông qua do việc thông qua đạo luật này; 4) Báo cáo giải trình về mặt kinh tế- tài chính (trong trường hợp dự luật đòi hỏi các chi phí vật chất để thực thi); 5) Kết luận của Chính phủ Liên bang Nga (trong trường hợp Dự luật có nội dung liên quan đến các vấn đề về tài chính và ngân sách); 6) Quyết định về việc cử đại diện của chủ thể trình dự án luật (trong trường hợp chủ thể trình dự án luật là cơ quan làm việc theo chế độ tập thể). 7) Dự thảo Nghị quyết của Đuma Quốc gia về việc thông qua dự luật trong lần xem xét thứ nhất; 8) Báo cáo thẩm tra của Uỷ ban Thẩm tra; 9) Báo cáo thẩm tra của Vụ pháp luật thuộc Văn phòng Đuma Quốc gia; 10) Dự thảo quyết định của Hội đồng Đuma Quốc gia về việc xem xét dự luật trong phiên họp của Đuma Quốc gia có chỉ rõ ngày xem xét, báo cáo viên về dự luật và đồng báo cáo viên do Uỷ ban có trách nhiệm cử ra.

Phiên họp tiến hành lần xem xét thứ nhất đối với dự luật được bắt đầu bằng việc chủ thể trình dự án luật giải trình về sự cần thiết thông qua đạo luật. Sau đó, Đuma Quốc gia sẽ nghe Báo cáo thẩm tra của uỷ ban thẩm tra và tiến hành thảo luận. Trong lần thảo luận này, các đại biểu Đuma Quốc gia chủ yếu tập trung xem xét về những quan điểm lớn của dự luật, đánh giá sự tương thích của những quy định trong dự luật với Hiến pháp Liên bang Nga, tính thời sự và ý nghĩa thực tế của nó. Ðể đạt được mục đích này, trách nhiệm giải trình chủ yếu trong giai đoạn xem xét lần thứ nhất của dự luật thuộc về chủ thể trình dự án luật. Khi cần nghiên cứu sâu thêm về dự luật, Đuma Quốc gia có thể dành một khoảng thời gian để chủ thể trình dự án luật trả lời các câu hỏi của đại biểu Đuma Quốc gia về nội dung chính của dự luật, sau đó nghe các ý kiến nhận xét, kiến nghị của các liên minh đại biểu, các đại biểu Đuma Quốc gia, đại diện toàn quyền của Tổng thống Liên bang Nga tại Đuma Quốc gia, đại diện toàn quyền của Chính phủ Liên bang Nga tại Đuma Quốc gia, đại diện của các cơ quan lập pháp (cơ quan đại diện) của các chủ thể Liên bang Nga, của những nhân vật được mời tham gia thảo luận khác. Trong trường hợp dự luật có dự liệu những khoản chi lấy từ ngân sách liên bang, việc thảo luận, xem xét dự luật tại Đuma Quốc gia bắt buộc phải có ý kiến kết luận của Chính phủ Liên bang Nga. Việc thảo luận tại lần xem xét thứ nhất đối với dự luật được kết thúc bằng lời kết luận của các chủ thể trình dự án luật trong đó có giải trình, phân tích những đề nghị, và nhận xét được đưa ra trong quá trình thảo luận.

Dựa trên kết quả thảo luận dự luật trong lần xem xét thứ nhất, Đuma Quốc gia có thể đưa ra các quyết định: 1) Bác bỏ dự luật; 2) Thông qua dự luật trong lần xem xét thứ nhất; 3) Thông qua dự luật với các phương án sửa đổi; 4) Thông qua dự luật.

Đuma Quốc gia Nga có thể bác bỏ dự luật khi không có đủ đa số để biểu quyết thông qua dự luật trong lần xem xét thứ nhất. Quyết định bác bỏ dự luật được thể hiện dưới dạng Nghị quyết của Đuma Quốc gia. Dự luật bị bác bỏ sẽ không được xem xét tiếp mà được trả lại cho chủ thể sáng quyền lập pháp. Trong trường hợp ngược lại, với một đa số cần thiết, Đuma Quốc gia thông qua dự luật trong lần xem xét thứ nhất (mà không có các điểm sửa đổi) và chuyển dự luật sang giai đoạn tiếp theo. Quyết định này của Đuma Quốc gia được thể hiện bằng một Nghị quyết. Nghị quyết thông qua dự án luật trong lần xem xét thứ nhất cũng sẽ ấn định một khoảng thời gian nhất định để các chủ thể có thể đệ trình những điểm sửa đổi, bổ sung dự luật. Ðối với các dự án luật thông thường, thời hạn trình những điểm sửa đổi, bổ sung không được dưới 15 ngày, còn đối với các dự luật liên quan đến các đối tượng thẩm quyền chung của Liên bang Nga và các chủ thể Liên bang Nga thì thời hạn này không dược dưới 30 ngày.

Đuma Quốc gia cũng có thể quyết định thông qua toàn bộ dự luật tại thời điểm này mà không cần có các bước tiếp theo (không cần có lần xem xét thứ hai, lần xem xét thứ ba). Ðây có thể được coi là một cơ hội để rút ngắn thời gian xem xét, thông qua dự án luật tại Đuma Quốc gia Nga. Quyết định này được đưa ra trên cơ sở đề nghị của Ủy ban thẩm tra và được Đuma Quốc gia chấp thuận bằng một cuộc biểu quyết nhưng với điều kiện Ủy ban thẩm tra phải bảo đảm dự luật được thẩm định về mặt pháp lý và thẩm định ngôn ngữ. Thông thường, đề nghị của Ủy ban thẩm tra về việc thông qua toàn bộ dự luật được quyết định bằng một cuộc biểu quyết không cần phải thảo luận. Tuy nhiên, nếu có ý kiến phản đối đề nghị này, chủ toạ phiên họp cho phép tiến hành thảo luận bằng cách cho phép những đại biểu có ý kiến phản đối mỗi người ba phút để trình bày ý kiến của mình và đại diện của Uỷ ban thẩm tra có quyền bày tỏ ý kiến của Uỷ ban về từng ý kiến phản đối. Trước khi kết thúc thảo luận, nếu Uỷ ban thẩm tra không rút lại đề nghị thông qua đạo luật, chủ toạ phiên họp phải đưa đề nghị của Uỷ ban có trách nhiệm về việc thông qua đạo luật ra biểu quyết. Dự luật được coi là đã được Đuma Quốc gia thông qua nếu đa số của tổng số đại biểu thông qua biểu quyết đồng ý và khi đó dự luật sẽ được chuyển sang cho Hội đồng Liên bang xem xét ở giai đoạn tiếp theo.

Trường hợp thường xảy ra nhất khi xem xét dự án luật tại lần xem xét thứ nhất là Đuma Quốc gia sẽ thông qua dự luật kèm theo các phương án sửa đổi, bổ sung. Quyết định này thường được đưa ra khi có các giải pháp lập pháp sửa đổi, bổ sung đối với dự luật được đưa ra vào thời điểm Đuma Quốc gia đang tiến hành xem xét dự án luật tại lần xem xét thứ nhất. Trong trường hợp này, Đuma Quốc gia xem xét dự luật và các giải pháp lập pháp sửa đổi, bổ sung cùng một lúc bằng cách thảo luận và biểu quyết theo cụm vấn đề. Theo kết quả biểu quyết, giải pháp lập pháp nào có số phiếu nhiều nhất và đạt đủ đa số cần thiết sẽ được coi là giải pháp được thông qua trong lần xem xét thứ nhất. Nếu theo kết quả biểu quyết không một giải pháp lập pháp nào có đủ số phiếu cần thiết để thông qua thì dự luật có số phiếu nhiều nhất sẽ được đưa ra biểu quyết lần cuối. Dự luật được coi là thông qua trong lần xem xét thứ nhất, nếu khi biểu quyết lần cuối có quá bán tổng số đại biểu bỏ phiếu đồng ý với dự luật. Ðể tạo điều kiện cho việc kiểm soát chất lượng thẩm tra các dự án luật, các quyết định của Đuma Quốc gia Nga tại lần xem xét thứ nhất đối với dự luật cũng có thể được xem xét lại. Quy chế hoạt động của Đuma Quốc gia quy định Đuma Quốc gia có thể thông qua quyết định về việc phúc quyết toàn văn dự luật đã được thông qua trong lần xem xét thứ nhất.

            Phần III: Thẩm tra và xem xét lần hai tại Đuma quốc gia Nga

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK