NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NỀN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Cập nhật : 15:13 - 22/07/2013

Từ khía cạnh tổ chức – cơ cấu, nền hành chính Nhà nước là hệ thống tổ chức các cơ quan hành chính nhà nước, có chức năng quản lý nhà nước (thực thi quyền hành pháp), có nghĩa là quản lý công việc hàng ngày của nhà nước. Hệ thống đó được tạo bởi các pháp nhân công quyền (chính phủ các bộ cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, uỷ ban nhân dân, các đơn vị sự nghiệp, kinh tế của nhà nước) có chức năng tổ chức thực hiện chấp hành và điều hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành,  bằng các quyết định hành chính đơn phương điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước.

Ở đây, nền hành chính nhà nước là sản phẩm của xã hội  có nhà nước, là một bộ phận của bộ máy nhà nước, cùng với các bộ phận cơ quan cùng với các bộ phận khác (cơ quan quyền lực, toà án, kiển sát) tạo thành bộ phận trụ cột của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nền hành chính nhà nước mang nội dung chính trị, phục vụ cho mục tiêu  chính trị, đó không phải là bộ máy chuyên môn thuần tuý tách rời chính trị, phục vụ cho chính trị để thực hiện thi quyền hạn.

Trong hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước là trung tâm xương sống của hệ thống chính trị; là công cụ chủ yếu, có chức năng tổ chức, quản lý mọi quá trình xã hội hướng nó vận động theo đúng quy luật, theo những mục tiêu  chính trị - xã hội do Đảng đề ra.

Trong bộ máy nhà nước, các cơ quan hành chính nhà nước là những cơ quan của quyền lực của nhà nước nắm quyền hành pháp, thực hiện  chức năng quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực, là những cơ quan hoạt động thường xuyên liên tục, nhanh nhạy.

Là sản phẩm của xã hội, là bộ phận của bộ máy nhà nước, nền hành chính nhà nước được vận hành theo một cơ chế nhất định phục vụ các yêu cầu của xã hội và của công dân, phù hợp với các giai đoạn phát triển ngày càng cao của xã hội trên  cơ sở pháp luật quy định về nhiệm vụ, thẩm quyền, chức năng. Ở khía cạnh này, nền hành chính còn đựơc gọi là cơ chế vận hành của bộ máy hành chính, hình thức, phương thức hoạt động, định chế pháp luật về quyền hạn, trình tự thực hiện các hoạt động. Nói cách khác, nền hành chính vận hành trong môi trường pháp luật.

Văn kiện hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành trung ương khoá 7 Đảng Cộng Sản Việt Nam trong khi xác định phương hướng cải cách một bước nền hành chính nhà nước đã chỉ ra nội dung cơ bản của nền hành chính nhà nước, bao gồm những yếu tố chủ yếu sau đây:

a, Thể chế của nền hành chính. Nội dung cải cách thể chế của nền hành chính nhà nước tổ chức quyền lực, phân công, phân cấp trung ương và địa phương vv… là những vấn đề quan trọng phải xem xét, giải quyết; mặt khác phải coi trọng cải cách một bước cơ bản các thủ tục hành chính, cả về thể chế và tổ chức thực hiện. Loại bỏ những khâu xét duyệt không cần thiết, giảm phiền hà ngăn chặn tệ cửa quyền sách nhiễu. Lập lại trật tự trong việc ban hành thủ tục hành chính và quy định lệ phí. Đẩy mạnh việc giải quyết các khiếu kiện của nhân dân. Đổi mới quy trình lập pháp và lập quy. Cải tiến sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan của Quốc hội và Chính phủ để đảm bảo tính kịp thời và nâng cao chất lượng xây dựng luật. Nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật, thiết lập trật tự, kỷ cương xã hội, kỷ luật trong bộ máy Nhà nước.

b, Về tổ chức bộ máy hành chính và quy chế hoạt động của hệ thống hành chính. Trong lĩnh vực này, cần điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy Chính phủ theo hướng giảm dần số lượng bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc chính phủ ; tăng cường trách nhiệm của bộ trưởng trong việc quyết định các vấn đề thuộc chức năng và thẩm quyền của bộ. Thủ tướng tập trung vào việc chỉ đạo, phối hợp giữa các bộ, giải quyết các vấn đề vượt khỏi thẩm quyền của bộ trưởng; chính phủ và các cơ quan hành chính các cấp tập trung vào quản lý kinh tế vĩ mô, không can thiệp trực tiếp việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, tiến tới xoá bỏ chế độ chủ quản đối với các doanh nghiệp Nhà nứơc hoạt động theo cơ chế kinh doanh vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ, kết hợp quản lý theo ngành và theo địa phương và lãnh thổ sát hợp với chức năng chỉ đạo, điều hành của hệ thống hành chính với đặc điểm của từng ngành, từng lĩnh vực…

Đối với chính quyền địa phương cần xác định rõ Nhà nước ta là Nhà nước có quyền lực thống nhất, không phân chia, chỉ có một Nhà nước, không có Nhà nước địa phương, chính quyền ở địa phương là một bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước thống nhất. Trong giai đoạn hiện nay, cần nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc chấp hành pháp luật. Tăng quyền chủ động của Hội đồng nhân dân trong việc quyết định những vấn đề mang tính địa phương.

c, Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính. Hiệu lực của bộ máy nhà nước nói chung và bộ máy hành chính Nhà nước nói riêng, suy cho cùng do nhân tố con người quyết định. Đó là phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, viên chức, công chức. Phải tạo ra đội ngũ cán bộ, công chức của nền hành chính được đào tạo chính quy, có năng lực, mẫn cán, liêm khiết,  có kiến thức pháp luật và quản lý hành chính Nhà nước, kể cả kỹ thuật, nghiệp vụ hành chính, xác định được bổn phận, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình và phục vụ tận tụy công vụ của Nhà nước

 

K.Q.
 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIII:

Tổng số đại biểu là 497 người;
- 33.4đại biểu ở các cơ quan trung ương;
- 65.8% đại biểu ở địa phương;
- 15.6% đại biểu là người dân tộc thiểu số;
- 24.4% đại biểu là phụ nữ;
- 8.4% đại biểu là người ngoài Đảng;
- 12.2% đại biểu là trẻ tuổi (dưới 40);
- 33.2% là đại biểu Quốc hội khóa XII tái cử;
- 98,2% đại biểu có trình độ đại học và trên đại học;
- 7% đại biểu thuộc khối doanh nghiệp;
- 33% đại biểu hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội;
- 0.8% đại biểu là người tự ứng cử.

WEBLINK