Tinh thần phát triển thanh niên trong Luật Thanh niên 2020 (Phần 1)
Cập nhật : 15:50 - 16/12/2020

Quốc hội nướcCHXHCN Việt Nam khóa XIV, tại kỳ họp thứ Chín đã thông qua Luật Thanh niên 2020 ngày 16/6/2020,thay thế cho Luật Thanh niên 2005. Luật này hướng tới việc tạo môi trường và độnglực cho sự phát triển của thanh niên, tạo điều kiện cho thanh niên phấn đấu,rèn luyện để phát triển bản thân, đóng góp cho xã hội. So với Luật Thanh niên2005, các quy định của Luật Thanh niên 2020 thể hiện tư tưởng, mục tiêu phát triển thanh niênmột cách rõ nét và xuyên suốt và để thực hiện mục tiêu này.

 

1. Luật Thanh niên ghi nhận vaitrò đặc biệt quan trọng của thanh niên

          Thanh niên là một lực lượngxã hội to lớn, với nhiệt huyết và khát khao, tinh thần của tuổi trẻ, đây là lựclượng quan trọng, có đóng góp to lớn trong lịch sử cách mạng của dân tộc. Vì vậy,để ghi nhận và khẳng định vai trò vô cùng to lớn đó, Điều 4 Luật Thanh niên2020 khẳng định:

          “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, xung kích, sáng tạo, đi đầutrong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hộinhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Sự khẳng định này vừa là sự ghinhận vai trò, vị trí vô cùng quan trọng của thanh niên, vừa thể hiện niềm tin,sự kì vọng của Đảng và Nhà nước đối với thế hệ trẻ, vừa thể hiện mục tiêu củaluật là tạo động lực để thanh niên không ngừng phấn đấu, rèn luyện, phát triểnbản thân để rồi cống hiến, đóng góp cho đất nước.

          Với tinh thần đó, Luậtcũng có hướng tiếp cận mới đối với vấn đề quyền và nghĩa vụ của thanh niên so vớiLuật Thanh niên 2005. Theo đó, Luật Thanh niên chỉ quy định một cách khái quát ởĐiều 4 “Thanh niên có quyền và nghĩa vụ củacông dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật” nhằm tránh việc chồngchéo với các quyền, nghĩa vụ của công dân đã được quy định trong các văn bản luậtchuyên ngành. Đồng thời, Luật Thanh niên 2020 đã bổ sung quy định về  trách nhiệm xã hội của thanh niên, để thanhniên khi tiếp cận luật nhìn thấy được vai trò, trách nhiệm của mình với Tổ quốc,với đất nước, với gia đình, xã hội và với chính bản thân mình từ đó cống hiến,đóng góp ngược lại cho đất nước, cho xã hội. Quan điểm này đã nhiều lần đượcnêu bởi các chuyên gia, nhà quản lý trong suốt quá trình xây dựng dự thảo luật, mà một trong số đó làphát biểu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân tại phiênhọp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng 10.9: “Ra luật này thanh niên đọc, nghiên cứu thì phải thấy chúng ta phải làmgì cho Tổ quốc, chứ không phải Tổ quốc phải làm gì cho ta”[1]. Trên cơsở đó, thanh niên có cơ ở pháp lý để định hướng cho việc rèn luyện, tu dưỡng,phấn đấu, nâng cao trách nhiệm đối với dân tộc, đất nước, xã hội, gia đình và vớichính bản thân mình.

2. Luật Thanh niên ghi nhận các nguyên tắc để đảm bảo cho sự phát triểncủa thanh niên

          Theo Báo cáo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Thanh niên[2],đã có nhiều quốc gia có Luật Thanh niên quy định vấn đề nguyên tắc như là mộttrong những nội dung cơ bản, quan trọng của luật như Modova, Hàn Quốc, Serbia,Bulgaria, Australia. Đồng thời, ở trong nước, đã có nhiều luật, bộ luật quy địnhvề vấn đề nguyên tắc như: Bộ luật Dân sự 2015, Luật Bình đẳng giới 2006, LuậtHôn nhân và Gia đình 2014,... Vì vậy, Điều 5 Luật Thanh niên 2020 đã quy định vềnguyên tắc bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ của thanh niên và chính sách củaNhà nước đối với thanh niên, trong đó có những nguyên tắc hết sức cơ bản, bảo đảmcho sự phát triển của thanh niên. Cụ thể:

          “1. Quyền, nghĩa vụ của thanh niên được công nhận, tôntrọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện theo quy định của Hiến pháp và pháp luật

          2.Không phân biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo,trình độ văn hóa, nghề nghiệp trong thực hiện quyền, nghĩa vụ của thanh niên.

          3.Nhà nước, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình và cá nhân có trách nhiệm tạo điềukiện để thanh niên thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của Hiến pháp vàpháp luật.

          4.Chính sách của Nhà nước đối với thanh niên phải bảo đảm mục tiêu phát triểnthanh niên; tạo điều kiện cho thanh niên thực hiện, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệmvà phát huy năng lực; được xây dựng hoặc lồng ghép trong các chính sách củangành, lĩnh vực, địa phương.

          5.Việc xây dựng và thực hiện chính sách của Nhà nước đối với thanh niên phải bảođảm sự tham gia của thanh niên; tôn trọng, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng củathanh niên.

          6.Hỗ trợ, tạo điều kiện cho thanh niên Việt Nam ở nước ngoài tham gia các hoạt độnghướng về Tổ quốc và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

          7.Xử lý kịp thời, nghiêm minh cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện hoặc thựchiện không đúng trách nhiệm theo quy định của Luật này”.

(Còn tiếp)

 

Tài liệu tham khảo:

1. http://www.youthpolicy.org/blog/youth-policy-reviews-evaluations/state-of-youth-policy-2014/

2. https://thanhnien.vn/gioi-tre/chu-tich-quoc-hoi-sua-luat-de-giup-thanh-nien-thay-minh-da-lam-gi-cho-to-quoc-1124649.html

3. Viện Nghiên cứu Thanh niên, Báo cáo “Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giớitrong xây dựng chính sách, pháp luật về thanh niên”, Tài liệu tham khảo phụcvụ phục vụ quá trình xây dựng Luật Thanh niên và cung cấp thông tin cho Đại biểuQuốc hội tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV, Hà Nội, 2019


[2]Viện Nghiên cứu Thanh niên, Báo cáo “Kinhnghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong xây dựng chính sách, pháp luậtvề thanh niên”, Tài liệu tham khảo phục vụ phục vụ quá trình xây dựng LuậtThanh niên và cung cấp thông tin cho Đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 8, Quốchội khóa XIV, Hà Nội, 2019

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK