HỎI – ĐÁP DÀNH CHO ĐẠI BIỂU DÂN CỬ THÁNG 7 – SỐ 3
Cập nhật : 8:56 - 28/09/2020
Câu hỏi: Pháp luật quy định Ủy ban nhân dân cấp xã họp bằng các hình thức nào?
Trả lời:
Theo điều 113 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 và Khoản 31 Điều 2 Luật số 47/2019/QH14 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2019, có hai hình thức họp của Ủy ban nhân dân cấp xã, bao gồm:
- Ủy ban nhân dân họp thường kỳ mỗi tháng một lần.
- Ủy ban nhân dân họp chuyên đề hoặc họp để giải quyết công việc phát sinh đột xuất;
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định triệu tập họp Ủy ban nhân dân cấp xã chuyên đề hoặc họp để giải quyết công việc phát sinh đột xuất hoặc khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện yêu cầu hoặc theo yêu cầu của ít nhất một phần ba tổng số thành viên Ủy ban nhân dân.

Câu hỏi: Người nào có thẩm quyền triệu tập phiên họp của Ủy ban nhân dân cấp xã?
Trả lời:
Theo Khoản 1, Khoản 4 Điều 114 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 và Khoản 31 Điều 2 Luật số 47/2019/QH14 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã là người quyết định cụ thể ngày họp, chương trình, nội dung phiên họp. Vì vây, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã là người quyết định triệu tập phiên họp của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Chương trình, thời gian họp và các tài liệu trình tại phiên họp phải được gửi đến các thành viên Ủy ban nhân dân chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày bắt đầu phiên họp thường kỳ và chậm nhất là 01 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp chuyên đề hoặc họp để giải quyết công việc phát sinh đột xuất.

Câu hỏi: Thành viên Ủy ban nhân dân cấp xã có phải tham gia phiên họp của Ủy ban nhân dân không?
Trả lời:
Theo Khoản 2 Điều 114 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, thành viên Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tham dự đầy đủ các phiên họp Ủy ban nhân dân, nếu vắng mặt phải báo cáo và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân đồng ý. 

Câu hỏi: Trường hợp nào thì phiên họp của Ủy ban nhân dân cấp xã không được tiến hành?
Trả lời:
Phiên họp Ủy ban nhân dân cấp xã là hình thức hoạt động tập thể của Ủy ban nhân dân cấp xã, cần đảm bảo số lượng nhất định để đảm bảo mọi quyết định được xem xét, thông qua là của tập thể Ủy ban nhân dân cấp xã. Để đảm bảo việc ra quyết định theo đa số, khoản 3 Điều 114 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định phiên họp Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên Ủy ban nhân dân tham dự.

Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về chủ tọa phiên họp của Ủy ban nhân dân?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 115 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân chủ tọa phiên họp Ủy ban nhân dân. Khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân vắng mặt, một Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phân công chủ tọa phiên họp. Chủ tịch Ủy ban nhân dân hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân theo phân công của Chủ tịch Ủy ban nhân dân chủ trì việc thảo luận từng nội dung trình tại phiên họp Ủy ban nhân dân.
Người chủ trì có trách nhiệm bảo đảm thực hiện chương trình phiên họp và những quy định về phiên họp.

Câu hỏi: Khách mời tham dự phiên họp của Ủy ban nhân dân cấp xã gồm những đối tượng nào?
Trả lời:
Theo Điều 116 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, khách mời tham dự phiên họp Ủy ban nhân dân cấp xã gồm các đối tượng sau đây:
- Đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã;
- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương, đại diện các Ban của Hội đồng nhân dân được mời tham dự phiên họp Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ khi Ủy ban nhân dân bàn về các vấn đề có liên quan đến Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức xã hội;
- Các đại biểu khác được mời tham dự phiên họp Ủy ban nhân dân khi bàn về các vấn đề có liên quan. 
 
Câu hỏi: Quyết định tại phiên họp của Ủy ban nhân dân cấp xã được tiến hành như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 117 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã được thực hiện thông qua việc biểu quyết tại phiên họp Ủy ban nhân dân và được quy định như sau: 
- Thành viên Ủy ban nhân dân có quyền biểu quyết tán thành, không tán thành hoặc không biểu quyết;
- Ủy ban nhân dân quyết định áp dụng một trong các hình thức biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín;
- Quyết định của Ủy ban nhân dân phải được quá nửa tổng số thành viên Ủy ban nhân dân biểu quyết tán thành. Trường hợp số tán thành và số không tán thành ngang nhau thì quyết định theo ý kiến biểu quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân.

Câu hỏi: Việc biểu quyết có nhất thiết phải tiến hành tại phiên họp của Ủy ban nhân dân cấp xã hay không?
Trả lời:
Việc biểu quyết không nhất thiết phải tiến hành tại phiên họp của Ủy ban nhân dân cấp xã. Theo quy định tại Điều 118 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, đối với một số vấn đề do yêu cầu cấp bách hoặc không nhất thiết phải tổ chức thảo luận, biểu quyết tại phiên họp Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quyết định việc biểu quyết của thành viên Ủy ban nhân dân bằng hình thức gửi phiếu ghi ý kiến. 
Việc biểu quyết bằng hình thức phiếu ghi ý kiến phải được quá nửa tổng số thành viên Ủy ban nhân dân biểu quyết tán thành. Trường hợp số tán thành và số không tán thành ngang nhau thì quyết định theo ý kiến biểu quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Chủ tịch Ủy ban nhân dân phải thông báo kết quả biểu quyết bằng hình thức gửi phiếu ghi ý kiến tại phiên họp Ủy ban nhân dân gần nhất.

Câu hỏi: Phiên họp của Ủy ban nhân dân có phải ghi thành biên bản không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 119 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 thì các phiên họp Ủy ban nhân dân cấp xã phải được lập thành biên bản. Biên bản phải ghi đầy đủ nội dung các ý kiến phát biểu và diễn biến của phiên họp, ý kiến kết luận của chủ tọa phiên họp hoặc kết quả biểu quyết.

Câu hỏi: Kết quả phiên họp của Ủy ban nhân dân cấp xã được thông báo như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 120 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, kết quả phiên họp của Ủy ban nhân dân cấp xã phải được thông báo kịp thời đến các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân sau đây:
- Các thành viên Ủy ban nhân dân; 
- Thường trực Đảng ủy cấp xã;
- Thường trực Hội đồng nhân dân; 
- Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã;
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện;
- Các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan.
Đối với kết quả phiên họp Ủy ban nhân dân xã liên quan đến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đền bù, giải phóng mặt bằng và các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân ở địa phương thì ngay sau mỗi phiên họp, Ủy ban nhân dân có trách nhiệm thông tin cho các cơ quan báo chí hoặc trên hệ thống loa truyền thanh của xã, phường, thị trấn.

Tham khảo:
1. Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015.
2. Luật số 47/2019/QH14 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2019.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK