TỔ CHỨC CỦA HĐND CẤP TỈNH QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ (PHẦN 1 )
Cập nhật : 8:48 - 28/09/2020
Ngay sau khi nước ta dành được độc lập năm 1945, HĐND đã được thành lập và gắn liền với chế độ dân chủ của Nhà nước ta trong suốt chặng đường 75 năm qua. Tổ chức, bộ máy của HĐND các cấp nói chung và HĐND cấp tỉnh nói riêng không ngừng được kiện toàn, bổ sung, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ qua các thời kỳ lịch sử, có những đóng góp quan trọng vào sự ổn định và phát triển trên mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng…, qua đó khẳng định vai trò của cơ quan quyền lực nhà nước trong hệ thống chính trị ở địa phương. 

Tổ chức HĐND cấp tỉnh giai đoạn 1945 - 1958
Ngày 22/11/1945, chỉ sau hơn 2 tháng khi đất nước dành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 63-SL quy định về tổ chức chính quyền nhân dân xã, huyện, tỉnh, kỳ; tiếp đó, ngày 21/12/1945 ban hành Sắc lệnh số 77 – SL quy định về tổ chức chính quyền nhân dân ở các thành phố và thị xã. Theo đó, chính quyền địa phương được tổ chức thành 4 cấp, gồm: Kỳ, tỉnh, huyện và xã. Đối với tỉnh và xã (ở địa bàn nông thôn); thành phố, thị xã (ở địa bàn đô thị) được xác định là cấp chính quyền hoàn chỉnh có HĐND và Ủy ban hành chính; riêng kỳ và huyện chỉ có Ủy ban hành chính. 
HĐND tỉnh có từ 20 đến 30 hội viên chính thức và 5 hội viên dự khuyết (riêng ở hai thành phố Hà Nội và Sài Gòn - Chợ Lớn có 30 hội viên chính thức và 6 hội viên dự khuyết). Nếu HĐND thiếu hội viên chính thức thì hội viên dự khuyết sẽ theo thứ tự được cử thay vào. 
Cách tính tổng số hội viên các HĐND tuỳ theo dân số. Nhiệm kỳ của HĐND hàng tỉnh là 2 năm. Những khoá đầu thời hạn làm việc của các HĐND hàng tỉnh chỉ có một năm. Đối với thành phố Hà Nội được đặt trực tiếp dưới quyền Chính phủ trung ương, còn các thành phố khác đều thuộc quyền các kỳ (bao gồm Hải Phòng, Nam Định, Vinh- Bến Thuỷ, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt và Sài Gòn - Chợ Lớn).
Ngày 09 tháng 11 năm 1946, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta. Về cơ bản, tổ chức HĐND được quy định giống như Sắc lệnh 63-SL và Sắc lệnh 77-SL. Theo đó, nước ta gồm có 3 bộ: Bắc, Trung, Nam. Ở mỗi bộ chia thành tỉnh, mỗi tỉnh chia thành huyện, mỗi huyện chia thành xã. Ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã có HĐND; ở bộ và huyện chỉ có Ủy ban hành chính. Hiến pháp năm 1946 quy định “một đạo luật sẽ định rõ những chi tiết tổ chức các HĐND và Uỷ ban hành chính”, nhưng do điều kiện kháng chiến nên Quốc hội không họp được để cụ thể hóa các quy định về HĐND trong Hiến pháp năm 1946, tuy nhiên đã có nhiều Sắc lệnh được ban hành nhằm cụ thể hoá những quy định của Hiến pháp về HĐND, thể hiện đường lối lãnh đạo linh hoạt của Đảng và Nhà nước ta đối với tổ chức và hoạt động của HĐND trong thời kỳ chiến tranh. Cụ thể như: Sắc lệnh 153 ngày 25/3/1948 sửa đổi Điều 9 Sắc lệnh 91 ngày 01/10/1947, sửa đổi Điều 1 Sắc lệnh số 3 ngày 28/12/1946 tạm hoãn các cuộc tổng tuyển cử vào HĐND và Uỷ ban hành chính; Sắc lệnh số 210 ngày 16/11/1946 ấn định phụ cấp cho các hội viên HĐND và Uỷ viên Uỷ ban hành chính các cấp; Sắc lệnh 150 ngày 25/3/1948 quy định rõ ràng về nhiệm vụ và cách thức tổ chức của HĐND: “Trong một HĐND khi số hội viên còn lại là quá nửa số đã định, thì HĐND đó vẫn đủ thẩm quyền làm việc, nếu số hội viên HĐND còn lại không được quá nửa số đã định thì có thể chỉ định thêm hội viên cho đủ quá nửa” và “nơi nào chưa có HĐND, thì có thể thành lập HĐND theo lối chỉ định“. 
Sau ngày kháng chiến chống Pháp thắng lợi ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành hai Sắc lệnh quan trọng: Sắc lệnh số 230-SL ngày 29 tháng 4 năm 1955 thành lập khu Tự trị Thái – Mèo và Sắc lệnh số 268-SL ngày 1 tháng 7 năm 1956 thành lập khu Tự trị Việt Bắc, trong đó bộ máy chính quyền của khu Tự trị được quy định như sau: “Bộ máy chính quyền khu tự trị gồm: HĐND và Uỷ ban hành chính. Tuỳ theo sự cần thiết sẽ tổ chức các ngành chuyên môn giúp việc. Thành phần HĐND phải có đủ đại biểu các dân tộc; cần chiếu cố đến các dân tộc ít người khi bầu cử Uỷ ban hành chính”.
Đến ngày 29/4/1958, sau 11 năm ban hành Hiến pháp năm 1946 và sau gần 4 năm kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tại kỳ họp thứ VIII Quốc hội khoá I đã biểu quyết thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương, trong đó khẳng định HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 1958 không quy định có cấp kỳ, hình thành đơn vị hành chính mới khu tự trị, châu, thành phố trực thuộc tỉnh, khu phố. Hầu hết các cấp hành chính đều có hai loại cơ quan là HĐND và Ủy ban hành chính, riêng huyện chỉ có Ủy ban hành chính, không có HĐND. Các thành phố và thị xã có HĐND và UBND. Khu phố là đơn vị hành chính dưới cấp thành phố cũng có thể là cấp chính quyền hoàn chỉnh có HĐND và UBND, nếu có điều kiện được Hội đồng Chính phủ quy định. Nhiệm kỳ HĐND khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương, tỉnh là 3 năm; nhiệm kỳ HĐND các cấp khác là 2 năm. 

Tổ chức HĐND cấp tỉnh giai đoạn 1959 - 1979
Trước bối cảnh miền Bắc hoàn toàn giải phóng, cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới với nhiệm vụ mới: Xây dựng, củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, do đó đòi hỏi Hiến pháp năm 1946 phải được sửa đổi, bổ sung. Tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá I, Hiến pháp năm 1959 đã được thông qua. Điểm nổi bật và phát triển đáng ghi nhận của Hiến pháp năm 1959 là lần đầu tiên HĐND được định nghĩa bằng thuật ngữ sau này trở nên quen thuộc trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của nước ta khi nói đến vị trí pháp lý của HĐND: “HĐND các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. HĐND các cấp do nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương”. Hiến pháp khẳng định: “Tất cả quyền lực trong nước Việt nam dân chủ cộng hoà đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và HĐND các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. 
Bên cạnh đó, nếu như theo Hiến pháp năm 1946, HĐND không được thành lập ở một số cấp (như kỳ và huyện) thì tại Điều 79 Hiến pháp năm 1959 HĐND được thành lập ở các cấp đơn vị hành chính lãnh thổ như tỉnh, huyện, xã và các cấp tương đương. Nhiệm kỳ của mỗi cấp có thời gian khác nhau, trong đó, nhiệm kỳ HĐND tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương là ba năm. Nhiệm kỳ của mỗi khoá HĐND huyện, thành phố, thị xã, xã, thị trấn, khu phố là hai năm. Nhiệm kỳ của mỗi khoá HĐND các cấp trong khu vực tự trị do luật định. Ngày 27/10/1962, Luật Tổ chức HĐND và Uỷ ban hành chính các cấp đã được Quốc hội thông qua, quy định cụ thể và chi tiết Hiến pháp năm 1959 về tổ chức và hoạt động của HĐND cấp tỉnh. Cụ thể là:
- Về tổ chức các ban của HĐND cấp tỉnh: Để tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp, Luật Tổ chức HĐND và Ủy ban hành chính các cấp năm 1962 đã quy định cho phép HĐND có thể thành lập các ban và các ban này có nhiệm vụ giúp cho HĐND tìm hiểu ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, góp ý kiến với HĐND trong việc xây dựng và thực hiện những chủ trương công tác của địa phương. Tuy nhiên, HĐND cấp tỉnh có bao nhiêu ban, gồm những ban gì thì chưa được quy định. Ngoài ra, Luật còn quy định chế độ hoạt động kiêm nhiệm của các thành viên ban của HĐND: “Thành viên của các ban do HĐND cử trong HĐND và khi cần, có thể cử thêm người ngoài HĐND. Trong khi làm công việc do ban giao cho, các thành viên của các ban không thoát ly sản xuất hoặc công tác chuyên môn của mình”.
- Về đại biểu HĐND cấp tỉnh: Luật Tổ chức HĐND và Ủy ban hành chính các cấp năm 1962 đã quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của người đại biểu HĐND như: Đại biểu HĐND có quyền chất vấn Uỷ ban hành chính và các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban hành chính; có quyền dự các kỳ họp của HĐND cấp dưới thuộc đơn vị đã bầu ra mình, có quyền phát biểu ý kiến, nhưng không có quyền biểu quyết...

Tổ chức HĐND cấp tỉnh giai đoạn 1980 - 1991
Hiến pháp năm 1980 được ban hành sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, cả nước bước vào giai đoạn cách mạng mới: Giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Để khẳng định quan điểm tiếp tục tăng cường hiệu lực của chính quyền địa phương, Hiến pháp năm 1980 vẫn khẳng định: HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và chính quyền cấp trên…. 
Hiến pháp năm 1980 thành lập hai đơn vị mới là quận, phường và không tổ chức mô hình khu tự trị. HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương có nhiệm kỳ là bốn năm, trong khi đó nhiệm kỳ của HĐND các cấp khác là hai năm. Để cụ thể hoá những quy định của Hiến pháp năm 1980, ngày 30/6/1983 Luật Tổ chức HĐND và UBND được Quốc hội thông qua. Tiếp đó, ngày 30/6/1989, Luật Tổ chức HĐND và UBND sửa đổi được Quốc hội thông qua.
- Về Thường trực HĐND cấp tỉnh: Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1983 chưa quy định về Thường trực HĐND, đến Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1989 đã quy định Thường trực HĐND bao gồm Chủ tịch HĐND, Phó chủ tịch HĐND và Thư ký HĐND. Thường trực HĐND cấp tỉnh do HĐND cấp tỉnh bầu ra, là cơ quan bảo đảm việc tổ chức các hoạt động của HĐND, chịu trách nhiệm trước HĐND cấp tỉnh, chịu sự giám sát và hướng dẫn của Quốc hội và Hội đồng nhà nước. Việc Thường trực HĐND được thành lập nhằm tăng cường vai trò, hiệu lực, hiệu quả của HĐND và giảm ảnh hưởng của cơ quan hành chính đối với cơ quan quyền lực nhà nước.
- Các ban của HĐND cấp tỉnh: Hiến pháp năm 1980 quy định HĐND thành lập các ban cần thiết để giúp Hội đồng trong việc quyết định những chủ trương, biện pháp công tác ở địa phương và kiểm tra việc thi hành pháp luật, chính sách của Nhà nước và nghị quyết của HĐND. Trên cơ sở đó, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1983 đã quy định thành lập các ban chuyên trách và Ban thư ký để giúp HĐND. Thành viên của các Ban do HĐND bầu ra trong số đại biểu HĐND. Mỗi Ban có Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các thành viên khác của Ban. Số thành viên của các ban do HĐND quy định. Thành viên của các ban của HĐND không thể đồng thời là thành viên của UBND cùng cấp. Đặc biệt, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1989 không chỉ giao cho các ban nhiệm vụ thẩm tra các báo cáo, đề án do HĐND giao cho mà còn phải thẩm tra các báo cáo do Thường trực HĐND giao. 
- Về đại biểu HĐND cấp tỉnh: Một điểm mới so với Hiến pháp năm 1959 là ở Hiến pháp năm 1980 có 2 điều (Điều 119, 120) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND - nhân vật trung tâm của HĐND như phải liên hệ chặt chẽ và chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri, có quyền chất vấn, kiến nghị.... 

(Còn tiếp)

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK