HĐND Nghệ An đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân nguyện
Cập nhật : 16:36 - 25/09/2020

Công tác dân nguyện của Hội đồng nhân dân gồm các hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, đôn đốc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Từ đầu nhiệm kỳ 2016 – 2021 đến nay, HĐND, Thường trực, các Ban và của mỗi đại biểu HĐND tỉnh Nghệ An đã không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng công tác dân nguyện nhằm đáp ứng tốt ý kiến, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của cử tri trong tỉnh. 

1. Đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động tiếp xúc cử tri
Trong nhiệm kỳ 2016 – 2021, Thường trực HĐND tỉnh Nghệ An đã tổ chức 442 cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND tỉnh trước và sau các kỳ họp thường lệ HĐND tỉnh. Vai trò, trách nhiệm, kỹ năng của đại biểu trong tiếp xúc đã nâng lên, không chỉ ghi nhận ý kiến, kiến nghị của cử tri, nhiều đại biểu còn trực tiếp thông tin, trao đổi lại, giải đáp rõ về các kiến nghị đã được cơ quan chức năng giải quyết, qua đó góp phần hạn chế việc cử tri kiến nghị nhiều lần. Tại các kỳ họp, HĐND tỉnh đã duy trì đường dây điện thoại trực tuyến để tiếp nhận ý kiến, kiến nghị của cử tri. Bên cạnh hình thức tiếp xúc thường lệ, HĐND tỉnh đã tổ chức 34 cuộc tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, hướng đến đối tượng trực tiếp chịu sự tác động của chính sách dự kiến ban hành để có thêm nhiều thông tin phục vụ việc xem xét, quyết định tại kỳ họp, như: về chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; chính sách hỗ trợ đối với công tác cai nghiện ma túy, giáo dưỡng và giáo dục bắt buộc; cơ chế thực hiện Chương trình Sữa học đường cho trẻ em mầm non và tiểu học; về chế độ chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở xóm, khối, bản. 
Các cuộc tiếp xúc cử tri đã thu hút được sự quan tâm, tham dự của cử tri và nâng cao ý thức về trách nhiệm giải trình, tiếp thu của cơ quan chức năng, chính quyền địa phương; thể hiện rõ mối liên hệ giữa đại biểu và cử tri. Trung bình mỗi kỳ họp HĐND tỉnh đã tiếp nhận trên 150 ý kiến, kiến nghị của cử tri. Công tác tổng hợp, phân loại ý kiến, kiến nghị của cử tri đầy đủ, chính xác, khoa học hơn. Ngoài phân loại theo lĩnh vực, xét tính chất và mức độ, ý kiến, kiến nghị của cử tri được phân thành 2 nhóm: nhóm vấn đề bức xúc, cần giải quyết kịp thời và nhóm vấn đề cần quan tâm giải quyết. Tại kỳ họp, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết về giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri, trong đó nêu rõ những nội dung kiến nghị tại kỳ họp trước còn tồn đọng, cần tập trung giải quyết dứt điểm. Công tác đôn đốc, theo dõi, giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri được phân công thực hiện theo lĩnh vực chuyên môn của các Ban HĐND tỉnh, đảm bảo chặt chẽ, quyết liệt hơn thông qua các hình thức: thẩm tra báo cáo, khảo sát thực địa và đối tượng, giám sát theo chuyên đề. 
Nhìn chung, việc giải quyết kiến nghị cử tri của UBND tỉnh, vai trò tham mưu của các cấp, các ngành đã được quan tâm, chú trọng hơn, tạo ra nhiều chuyển biến tích cực. Số lượng, tỷ lệ kiến nghị được giải quyết khá cao (trung bình khoảng 80%). Chất lượng giải quyết, trả lời được nâng lên, trong đó có nhiều kết quả nổi bật, khá toàn diện, được cử tri ghi nhận, đánh giá cao. Điển hình như sau khi có ý kiến của cử tri, UBND tỉnh đã trình HĐND tỉnh ban hành nhiều cơ chế, chính sách; tập trung chỉ đạo giải quyết các vấn đề cử tri kiến nghị, như: thành lập các đoàn thanh tra liên ngành để giải quyết các vấn đề nổi cộm, bức xúc (thanh tra toàn diện việc chấp hành pháp luật về đầu tư, xây dựng, đất đai, quản lý của các chung cư, nhà cao tầng; thanh tra, kiểm tra liên ngành về công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; thanh tra, kiểm tra liên ngành việc khai thác cát sỏi trái phép,... ); ban hành nhiều văn bản triển khai thực hiện các giải pháp trong chỉ đạo, quản lý, điều hành.

2. Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân
Hoạt động tiếp công dân của các cơ quan HĐND tỉnh và đại biểu HĐND tỉnh đã có sự cải tiến và đi vào nề nếp. Để phù hợp với đặc điểm của các Tổ đại biểu và tình hình thực tiễn địa phương, Thường trực HĐND tỉnh giao các tổ chịu trách nhiệm phân công đại biểu trong tổ thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân tại nơi bầu cử, qua đó dành thời gian trực tiếp gặp gỡ và đối thoại với công dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân để kịp thời hướng dẫn, giải thích, trả lời, giải quyết đúng chính sách, pháp luật những phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân; đồng thời chủ động đối thoại, vận động, thuyết phục công dân để giải quyết dứt điểm các vụ việc, trong đó quan tâm các vụ việc phức tạp, mới phát sinh. Thường trực HĐND tỉnh và Văn phòng thực hiện nghiêm túc việc tiếp công dân thường xuyên cũng như định kỳ theo kế hoạch của tỉnh và Quy chế phối hợp giữa các cơ quan (dự các phiên tiếp công dân của Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh tại Trụ sở Tiếp công dân tỉnh).
Từ tháng 7/2016 đến nay, Thường trực, các Ban, Văn phòng HĐND tỉnh và đại biểu HĐND tỉnh đã tiếp nhận 1.066 lượt đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân (trong đó có 338 đơn khiếu nại, 247 đơn tố cáo, 482 đơn kiến nghị, phản ánh); phân loại, chuyển 629 đơn, thư của công dân đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, lưu 437 đơn. Qua theo dõi, tổng hợp có 296 đơn vị gửi văn bản trả lời. Công tác tiếp nhận, xử lý, theo dõi, đôn đốc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo ngày càng chặt chẽ hơn. Văn phòng HĐND tỉnh tăng cường phối hợp với các cơ quan liên quan để nắm bắt việc xử lý, giải quyết. Tại phiên họp định kỳ hàng tháng và đột xuất (trong trường hợp cần thiết), Thường trực HĐND tỉnh xem xét tình hình đơn thư gửi đến và đặc biệt là các vụ việc nổi cộm, kéo dài để thống nhất chỉ đạo và đã đạt nhiều kết quả rõ nét. Điển hình như, qua đơn thư phản ánh của các hộ dân sinh sống tại khu dân cư PLAZA Vinh, khối 01, phường Quán Bàu, thành phố Vinh về việc chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Thường trực HĐND tỉnh đã chuyển đơn đến UBND thành phố Vinh để giải quyết và đến nay việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được thực hiện. Sai phạm đất đai ở huyện Diễn Châu từ các năm trước (đất sản xuất, đất ao cá Đình Đỏ, đất Hợp tác xã Yên Lý Đông), huyện, xã xử lý không dứt điểm, Thường trực HĐND tỉnh đã chuyển đơn của công dân đến UBND tỉnh và UBND tỉnh đã giao Thanh tra tỉnh rà soát để xử lý dứt điểm các sai phạm. Vụ việc các hộ dân ở thị trấn Thanh Chương không đồng tình việc thu hồi các lô đất trúng đấu giá đất, Thường trực HĐND tỉnh làm việc trực tiếp và yêu cầu huyện Thanh Chương vào cuộc, đối thoại với các hộ dân, tránh tình trạng chỉ giao cho UBND thị trấn giải quyết làm cho vụ việc kéo dài...

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK