HỎI – ĐÁP DÀNH CHO ĐẠI BIỂU DÂN CỬ THÁNG 5 – SỐ 3
Cập nhật : 16:26 - 25/09/2020

Câu hỏi: Việc trả lời chất vấn có thể thực hiện bằng hình thức văn bản không?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 60 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, việc trả lời chất vấn có thể thực hiện dưới hình thức văn bản và Hội đồng nhân dân cho trả lời chất vấn bằng văn bản trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất, chất vấn không thuộc nhóm vấn đề chất vấn tại kỳ họp;
Thứ hai, vấn đề chất vấn cần được điều tra, xác minh;
Thứ ba, chất vấn thuộc nhóm vấn đề chất vấn tại kỳ họp nhưng chưa được trả lời tại kỳ họp.
Người bị chất vấn phải trực tiếp trả lời bằng văn bản. Văn bản trả lời chất vấn được gửi đến đại biểu Hội đồng nhân dân đã chất vấn, Thường trực Hội đồng nhân dân trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày chất vấn.
Sau khi nhận được văn bản trả lời chất vấn, nếu đại biểu Hội đồng nhân dân không đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì có quyền đề nghị Hội đồng nhân dân đưa ra thảo luận tại kỳ họp Hội đồng nhân dân hoặc kiến nghị Hội đồng nhân dân xem xét trách nhiệm đối với người bị chất vấn.

Câu hỏi: Sau phiên chất vấn, Hội đồng nhân dân cấp xã có ra nghị quyết hay không, nội dung nghị quyết được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 60 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, sau phiên chất vấn, Hội đồng nhân dân cấp xã có thể ra nghị quyết về chất vấn. Việc ban hành nghị quyết là không bắt buộc mà do Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định khi xét thấy cần thiết. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã dự thảo hoặc giao cho Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã dự thảo nghị quyết về chất vấn.
Tại khoản 5 Điều 15 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, nội dung nghị quyết được quy định như sau:
- Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người bị chất vấn, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân liên quan đến vấn đề chất vấn;
- Thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập;
- Trách nhiệm thi hành của cơ quan, cá nhân;
- Trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết về chất vấn.

Câu hỏi: Việc thực hiện các vấn đề đã hứa hoặc nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã về chất vấn có phải báo cáo với Hội đồng nhân dân xã không?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 7 Điều 60 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, người đã trả lời chất vấn có trách nhiệm gửi báo cáo về việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã về chất vấn, các vấn đề đã hứa tại kỳ họp trước đến Thường trực Hội đồng nhân dân để chuyển đến các đại biểu Hội đồng nhân dân xã chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân.
Nội dung nghị quyết chất vấn rõ ràng, cụ thể làm cơ sở cho người bị chất vấn báo cáo. Tuy nhiên, với lời hứa của người bị chất vấn khó có cơ sở bởi người bị chất vấn thường ít khi “hứa” mà thường dùng các từ khác có ý nghĩa gần như vậy khi trả lời Hội đồng nhân dân xã. Ví dụ: “tôi sẽ xem xét giải quyết, Ủy ban nhân dân thấy rằng việc sửa chữa con đường là cần thiết”…Vì vậy, Thường trực Hội đồng nhân dân cần có văn bản yêu cầu người bị chất vấn trả lời về những vấn đề đã hứa.

Câu hỏi: Hội đồng nhân dân cấp xã có quyền giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp không? Trình tự xem xét được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo khoản 1 Điều 61 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015 quy định:
- Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của mình theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân.
- Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét văn bản quy phạm pháp luật nêu trên theo trình tự sau đây:
+ Đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân trình bày tờ trình;
+ Hội đồng nhân dân thảo luận.
+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân trình bày bổ sung những vấn đề có liên quan;
+ Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về việc xem xét văn bản.
- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân phải xác định văn bản quy phạm pháp luật trái hoặc không trái với Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp thì quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó.

Câu hỏi: Hội đồng nhân dân cấp xã giám sát chuyên đề bằng hình thức nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1, Điều 62 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, Hội đồng nhân dân cấp xã giám sát chuyên đề bằng hình thức sau:
Căn cứ chương trình giám sát, Hội đồng nhân dân cấp xã ra nghị quyết thành lập Đoàn giám sát chuyên đề theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân.
Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về việc thành lập Đoàn giám sát phải xác định rõ đối tượng, phạm vi, nội dung, kế hoạch giám sát, thành phần Đoàn giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát.
Thành phần Đoàn giám sát gồm:
+ Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã làm Trưởng đoàn;
+ Các thành viên khác gồm: Ủy viên của Thường trực Hội đồng nhân dân, đại diện Ban của Hội đồng nhân dân và một số đại biểu Hội đồng nhân dân. Đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, tổ chức thành viên của Mặt trận có thể được mời tham gia Đoàn giám sát.

Câu hỏi: Đoàn giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn gì?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 62 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, Đoàn giám sát có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Xây dựng đề cương báo cáo để cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo;
- Thông báo nội dung, kế hoạch, đề cương báo cáo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày Hội đồng nhân dân ra nghị quyết thành lập Đoàn giám sát; thông báo chương trình và thành phần Đoàn giám sát chậm nhất là 10 ngày trước ngày Đoàn tiến hành làm việc với cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát;
- Thực hiện đúng nội dung, kế hoạch giám sát;
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát, giải trình vấn đề mà Đoàn giám sát quan tâm;
- Xem xét, xác minh, mời chuyên gia tư vấn về vấn đề mà Đoàn giám sát xét thấy cần thiết;
- Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp dụng các biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và khôi phục lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý, xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật;
- Khi kết thúc hoạt động giám sát, Đoàn giám sát báo cáo kết quả giám sát để Hội đồng nhân dân xem xét tại kỳ họp gần nhất.
Trước khi báo cáo Hội đồng nhân dân, Đoàn giám sát báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân về kết quả giám sát.

Tham khảo:
Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK