HỎI – ĐÁP DÀNH CHO ĐẠI BIỂU DÂN CỬ THÁNG 5 – SỐ 2
Cập nhật : 16:17 - 25/09/2020

Câu hỏi: Hội đồng nhân dân giám sát bằng hình thức xem xét báo cáo nào và vào thời điểm nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 59 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét các báo cáo sau đây:
- Tại kỳ họp cuối năm và giữa năm, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét các báo cáo sau:
+ Báo cáo công tác 06 tháng, hằng năm của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã;
+ Báo cáo của Ủy ban nhân dân về kinh tế - xã hội; báo cáo của Ủy ban nhân dân về thực hiện ngân sách nhà nước, quyết toán ngân sách nhà nước của địa phương; báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng; báo cáo về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; báo cáo về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; báo cáo về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cử tri. Đối với cấp xã, Ủy ban nhân dân có thể trình Hội đồng nhân dân một báo cáo tổng hợp lồng ghép nhiều nội dung nêu trên.
- Tại kỳ họp cuối nhiệm kỳ, Hội đồng nhân dân xem xét báo cáo công tác nhiệm kỳ của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân;
- Kỳ họp không xác định: Thường trực Hội đồng nhân dân có thể đề nghị Hội đồng nhân dân xem xét báo cáo tại một kỳ họp nào đó khi xét thấy cần thiết các loại báo cáo về việc thi hành pháp luật trong một số lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật; báo cáo khác theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân.

Câu hỏi: Theo quy định của pháp luật, Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã có phải thẩm tra báo cáo không?
Trả lời:
Việc thẩm tra báo cáo là cần thiết, giúp cho đại biểu Hội đồng nhân dân xã có thêm thông tin, nhất là khi đại biểu Hội đồng nhân dân xã hoạt động kiêm nhiệm. Theo quy định tại khoản 3 Điều 59 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, với sự phân công của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã thẩm tra các báo cáo sau:
- Báo cáo công tác 06 tháng, hằng năm của Ủy ban nhân dân cấp xã;
- Báo cáo công tác nhiệm kỳ của Ủy ban nhân dân cấp xã; 
- Báo cáo của Ủy ban nhân dân về kinh tế - xã hội; báo cáo của Ủy ban nhân dân về thực hiện ngân sách nhà nước, quyết toán ngân sách nhà nước của địa phương; báo cáo của Ủy ban nhân dân về công tác phòng, chống tham nhũng; báo cáo của Ủy ban nhân dân về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; báo cáo của Ủy ban nhân dân về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; báo cáo của Ủy ban nhân dân về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cử tri;
- Báo cáo về việc thi hành pháp luật trong một số lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật;
- Báo cáo khác theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân.
Chỉ có báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân thì không cần thẩm tra.

Câu hỏi: Tại kỳ họp, Hội đồng nhân dân cấp xã giám sát bằng hình thức xem xét báo cáo theo trình tự nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 4, Điều 59 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét báo cáo theo trình tự sau đây:
Bước một, Người đứng đầu cơ quan có báo cáo trình bày báo cáo;
Bước hai, Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân trình bày báo cáo thẩm tra;
Bước ba, Người đứng đầu cơ quan có báo cáo có thể trình bày bổ sung những vấn đề có liên quan mà Hội đồng nhân dân quan tâm;
Bước bốn, Hội đồng nhân dân thảo luận;
Bước năm, Hội đồng nhân dân có thể ra nghị quyết về công tác của cơ quan có báo cáo.
Đối với báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban của Hội đồng  nhân dân thì chí có bước một và bước bốn.

Câu hỏi: Nghị quyết giám sát bằng hình thức xem xét báo cáo gồm những nội dung gì?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 59 và khoản 5 Điều 13 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, Nghị quyết về công tác của cơ quan có báo cáo phải có những nội dung cơ bản sau đây:
- Đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cập; trách nhiệm của cơ quan có báo cáo và người đứng đầu;
- Thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập;
- Trách nhiệm thi hành của cơ quan, cá nhân;
- Trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết về giám sát.

Câu hỏi: Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã chất vấn tại kỳ họp Hội đồng nhân dân bằng cách nào? 
Trả lời:
Tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 60 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015 quy định, đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn tại kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp xã theo trình tự sau đây:
- Trước phiên họp chất vấn, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ghi vấn đề chất vấn, người bị chất vấn vào phiếu chất vấn và gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân;
- Căn cứ vào chương trình kỳ họp, ý kiến, kiến nghị của cử tri, vấn đề xã hội quan tâm và phiếu chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, Thường trực Hội đồng nhân dân đề nghị Hội đồng nhân dân quyết định nhóm vấn đề chất vấn và người bị chất vấn.

Câu hỏi: Tại phiên họp, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét việc chất vấn và trả lời chất vấn theo trình tự như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 60 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét việc chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp theo trình tự như sau:
Bước 1:  Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã nêu chất vấn, có thể cung cấp thông tin minh họa bằng hình ảnh, video, vật chứng cụ thể;
Bước 2: Người bị chất vấn phải trả lời trực tiếp, đầy đủ vào vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân đã chất vấn, không được ủy quyền cho người khác trả lời thay; xác định rõ trách nhiệm, biện pháp và thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập (nếu có);
Bước 3: Trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã không đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì có quyền chất vấn lại để người bị chất vấn trả lời;
Bước 4: Những người khác có thể được mời tham dự phiên họp và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân về vấn đề thuộc trách nhiệm của mình.
Thời gian nêu chất vấn, thời gian trả lời chất vấn được thực hiện theo quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Tham khảo:
1. Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015.
2. Luật số 47/2019/QH14 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2019.
3. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK