QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC CƠ QUAN THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI (PHẦN 3)
Cập nhật : 15:27 - 27/08/2020
Hoạt động xây dựng pháp luật là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Quốc hội và các cơ quan, tổ chức có liên quan; nhu cầu xây dựng pháp luật ngày càng cao, nhưng thực tiễn công tác xây dựng pháp luật còn nhiều hạn chế, chất lượng của nhiều luật, pháp lệnh, nghị quyết còn hạn chế, nhất là kỹ thuật văn bản, tính hợp Hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thông pháp luật còn nhiều bất cập. Chính vì vậy, đầu nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XI, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 369/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 về thành lập Ban Công tác lập pháp nhằm góp phần thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng về nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong việc thực hiện chức năng lập pháp; đồng thời phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội trong việc bảo đảm kỹ thuật văn bản, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật. 

Tuy nhiên, qua quá trình hoạt động, ngày 10 tháng 3 năm 2008, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 594/2008/UBTVQH12 để giải thể Ban công tác lập pháp và Vụ công tác lập pháp; giao cho Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội thực hiện các chức năng, nhiệm vụ do Ban công tác lập pháp đảm nhiệm trước đó; giao Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội phối hợp với Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Trưởng ban của Ủy ban thường vụ Quốc hội bố trí, sắp xếp cán bộ, công chức của Vụ công tác lập pháp, và Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 614 thành lập Viện Nghiên cứu lập pháp.

3. Viện nghiên cứu lập pháp
3.1. Quá trình phát triển của Viện nghiên cứu lập pháp
Trước yêu cầu cần tăng cường công tác nghiên cứu, tham mưu cho Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội trong công tác xây dựng pháp luật, ngày 29 tháng 4 năm 2008, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 614/2008/UBTVQH 12 về thành lập Viện nghiên cứu lập pháp.

Trải qua 7 năm thực tiễn hoạt động, ngày 9/10/2015, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1050/2015/UBTVQH13 quy định chi tiết, rõ ràng hơn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện nghiên cứu lập pháp. Tại Điều 1 quy định, Viện nghiên cứu lập pháp là cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội có chức năng nghiên cứu khoa học lập pháp, tổ chức thông tin khoa học lập pháp để tham mưu chính sách, tư vấn, hỗ trợ, phục vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội; giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội và Văn phòng Quốc hội. Theo quy định của Nghị quyết thì Viện nghiên cứu lập pháp gồm có Trung tâm nghiên cứu khoa học lập pháp; Trung tâm thông tin khoa học lập pháp; Tạp chí nghiên cứu lập pháp; Ban quản lý khoa học; Văn phòng Viện nghiên cứu lập pháp.

3.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện nghiên cứu lập pháp
Theo Nghị quyết số 1050/2015/UBTVQH13, Viện nghiên cứu lập pháp có nhiệm vụ, quyền hạn như sau:
- Nghiên cứu, tổ chức nghiên cứu để tham mưu, phục vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong việc đổi mới cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội.
- Chủ động hoặc theo yêu cầu của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội và đại biểu Quốc hội thực hiện nghiên cứu, tổ chức nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn những vấn đề liên quan đến việc Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.
- Tư vấn, hỗ trợ đại biểu Quốc hội trong việc thực hiện quyền trình kiến nghị về luật, pháp lệnh và dự án luật, dự án pháp lệnh trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Chủ động hoặc theo yêu cầu của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, đại biểu Quốc hội tổ chức cung cấp thông tin khoa học lập pháp, kết quả nghiên cứu khoa học để phục vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội và đại biểu Quốc hội thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
- Tiếp nhận, quản lý, khai thác, phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học lập pháp, tài liệu, sản phẩm chứa đựng thông tin khoa học lập pháp từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài để cung cấp phục vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, đại biểu Quốc hội.
- Xuất bản Tạp chí nghiên cứu lập pháp để đăng tải, cung cấp, trao đổi thông tin khoa học lập pháp và tuyên truyền, phổ biến thông tin khoa học lập pháp, thực tiễn lập pháp và về văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành.
- Giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội và Văn phòng Quốc hội theo quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ.
- Thực hiện hoạt động hợp tác triển khai nghiên cứu, thông tin khoa học lập pháp với các cơ quan, tổ chức nghiên cứu, thông tin ở trong nước và nước ngoài; thu hút các nhà khoa học, các chuyên gia tham gia nghiên cứu và tổ chức thông tin khoa học lập pháp.
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật hoặc do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, lãnh đạo Quốc hội giao.

Trên cơ sở quy định của Nghị quyết số 614/2008/UBTVQH12 ngày 15 tháng 8 năm 2008 và Nghị quyết số 1050/2015/UBTVQH13, Viện nghiên cứu lập pháp đã chính thức được thành lập và đi vào hoạt động. 

Qua hơn 11 năm hoạt động, Viện nghiên cứu lập pháp đã không ngừng được trưởng thành và phát triển với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nghiên cứu và số lượng cộng tác viên đông đảo, có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm công tác. Đây là nhân tố quan trọng đã giúp cho Viện đạt được nhiều kết quả khích lệ, hỗ trợ phục vụ cho các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình; đưa công tác nghiên cứu khoa học dần đi vào nề nếp, góp phần nâng cao chất lượng các công trình nghiên cứu. Đồng thời, trong những năm qua Viện nghiên cứu lập pháp đã cung cấp nhiều thông tin, tài liệu cho các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội, cơ quan, tổ chức khác. Viện nghiên cứu lập pháp đã không ngừng xây dựng và duy trì, phát triển các mối quan hệ, hợp tác với các cơ quan, tổ chức trong nước và nước ngoài để tổ chức nghiên cứu, tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, khảo sát thực tiễn về tổ chức bộ máy nhà nước, hoạt động lập hiến, lập pháp, giám sát, góp nhiều ý kiến trong quá trình thảo luận, chỉnh lý hoàn thiện các dự án luật, nghị quyết, pháp lệnh.

Có thể nói rằng vai trò, trách nhiệm và thực tiễn đóng góp của Viện nghiên cứu lập pháp cho hoạt động của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội là hết sức cần thiết và to lớn. Do đó, Viện nghiên cứu lập pháp cần tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy, đổi mới phương thức hoạt động để thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu tham mưu cho Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội.  

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK