HỎI – ĐÁP DÀNH CHO ĐẠI BIỂU DÂN CỬ THÁNG 3 – SỐ 3
Cập nhật : 14:21 - 27/08/2020
Câu hỏi: Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã là gì?
Trả lời: 
Theo Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 thì Hội đồng nhân dân cấp xã không có Ban, đến Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 thì mới quy định về Ban của Hội đồng nhân dân. 
Theo quy định tại khoản 4 Điều 6 của Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015, Ban của Hội đồng nhân dân là cơ quan của Hội đồng nhân dân, có nhiệm vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình Hội đồng nhân dân, giám sát, kiến nghị về những vấn đề thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân.

Câu hỏi: Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn có bao nhiêu ban? Quy định về Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã khác với Ban của hội đồng nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh như thế nào?
Trả lời: 
Theo quy định tại Khoản Điều 32, Khoản 3 Điều 60 và Khoản 3 Điều 67 của Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015, Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn có 02 ban là Ban Pháp chế và Ban kinh tế - xã hội. Ban của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn gồm Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân do Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn quyết định. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn hoạt động kiêm nhiệm.   
Như vậy, quy định về ban của Hội đồng nhân dân cấp xã khác với quy định về ban của Hội đồng nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh. Cụ thể như sau: 
Theo Điều 25 của Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015, ngoài Ban pháp chế và Ban kinh tế - xã hội, ở cấp huyện nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thành lập thêm Ban dân tộc. 
Theo Điều 18 của Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015, Hội đồng nhân dân tỉnh thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - ngân sách, Ban văn hóa – xã hội, nơi nào có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thành lập thêm Ban dân tộc. Theo Điều 39 của Luật tổ chức chính quyền địa phương, Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - ngân sách, Ban văn hóa – xã hội và Ban đô thị.

Câu hỏi: Cách thức quyết định số lượng và lựa chọn thành viên Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời: 
Theo điểm 7 Hướng dẫn số 1138/HD-UBTVQH13 ngày 03/6/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Một số nội dung về việc tổ chức kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021, Thường trực Hội đồng nhân dân dự kiến số lượng thành viên, cơ cấu thành phần các Ban của Hội đồng nhân dân trên cơ sở số lượng các Ban, chức năng, nhiệm vụ của mỗi Ban của Hội đồng nhân dân, trình Hội đồng nhân dân khóa mới xem xét, quyết định bằng hình thức nghị quyết. Mỗi Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã phải có ít nhất là năm thành viên.
Trên cơ sở đăng ký của đại biểu Hội đồng nhân dân và số lượng ủy viên của mỗi Ban, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của Hội đồng nhân dân tổng hợp, lập danh sách cụ thể ủy viên của Ban mình để Trưởng ban trình Thường trực Hội đồng nhân dân ra nghị quyết phê chuẩn danh sách ủy viên của từng Ban. 
Việc lập và phê chuẩn danh sách ủy viên các Ban của Hội đồng nhân dân dựa trên sự phù hợp về chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm, vị trí công tác của mỗi đại biểu, yêu cầu về số lượng, cơ cấu của từng Ban và nguyện vọng của từng đại biểu Hội đồng nhân dân.

Câu hỏi: Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn gì?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 109 của Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015, Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Tham gia chuẩn bị nội dung kỳ họp của Hội đồng nhân dân liên quan đến lĩnh vực phụ trách.
- Thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án liên quan đến lĩnh vực phụ trách do Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân phân công.
- Giúp Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân; giám sát văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân ban hành thuộc phạm vi phụ trách.
- Tổ chức khảo sát tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực phụ trách do Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân phân công.
- Báo cáo kết quả hoạt động giám sát với Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân.
- Ban của Hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân; trong thời gian Hội đồng nhân dân không họp thì báo cáo công tác trước Thường trực Hội đồng nhân dân.
Qua thực tiễn cho thấy, với lĩnh vực hoạt động chuyên môn sâu, đại biểu hoạt động chuyên trách, các ban của Hội đồng nhân dân cấp xã đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp thời gian qua. Tuy nhiên, thực tế cũng đặt ra yêu cầu về việc cần hoàn thiện hơn Quy chế hoạt động của các Ban trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm đảm bảo tính khoa học, chặt chẽ và khả thi.

Câu hỏi: Ban Pháp chế của Hội đồng nhân dân cấp xã phụ trách lĩnh vực gì?
Trả lời: 
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 108 của Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015, Ban pháp chế của Hội đồng nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm trong các lĩnh vực thi hành Hiến pháp và pháp luật, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính ở địa phương.

Tham khảo:
1. Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015.
2. Luật số 47/2019/QH14 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2019.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK