Tác hại của sử dụng rượu bia đối với sự phát triển bền vững
Cập nhật : 10:59 - 17/09/2019
Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới có mức tiêu thụ rượu bia tăng nhanh, đặc biệt ở nam giới. Năm 2016, mức tiêu thị rượu bia bình quan đầu người ở Việt Nam cao thứ hai ở khu vực Đông Nam Á và thứ 3 Châu Á. Các số liệu nghiên cứu, khảo sát thực tiễn cho thấy tình hình sử dụng rượu, bia và đồ uống có cồn khác ở Việt Nam đang ở mức cao và có xu hướng gia tăng nhanh qua các năm, được thể hiện thông qua 3 tiêu chí: (1) mức tiêu thụ lít cồn nguyên chất bình quân đầu người và ở nam giới, (2) tỷ lệ người dân có uống rượu, bia và (3) tỷ lệ người uống rượu, bia ở mức nguy hại.

Sử dụng rượu bia là một yếu tố gây cản trở sự phát triển bền vững ở ba khía cạnh: sức khỏe, kinh tế và xã hội. Sử dụng rượu bia ở mức nguy hại là một trong năm nguyên nhân hàng đầu gây ra tàn tật và tử vong trên toàn cầu. Mỗi năm, sử dụng rượu bia ở mức nguy hại gây ra 5,3% số ca tử vong toàn cầu, tức là cứ mỗi phút có 6 người chết với tổng số 3 triệu ca tử vong. Tiêu dùng rượu bia là nguyên nhân gây tử vong và tàn tật tương đối sớm trong đời người. Ở những người 20-39 tuổi, khoảng 13,5% tổng số ca tử vong là do rượu bia gây ra1 . Sử dụng rượu bia cũng cản trở các quốc gia hướng tới các Mục tiêu phát triển bền vững như xóa đói giảm nghèo, tăng cường sức khỏe và hạnh phúc, giáo dục có chất lượng, bình đẳng giới, nước sạch và an ninh nguồn nước, tăng trưởng kinh tế, giảm thiểu sự bất bình đẳng, tạo dựng thành phố và cộng đồng bền vững.
 
a) Tác hại của sử dụng rượu, bia đối với sức khỏe:
Rượu bia là nguyên nhân gián tiếp của ít nhất 200 loại bệnh tật, chấn thương và là nguyên nhân trực tiếp của ít nhất 30 bệnh nằm trong danh mục phân loại bệnh tật quốc tế ICD10 (tức là trong tên bệnh đã có từ rượu, ví dụ như “loạn thần do rượu”). Theo Báo cáo toàn cầu về thực trạng sử dụng rượu, bia và sức khỏe năm 2011, 2014 của Tổ chức Y tế thế giới, rượu, bia gây tổn thương đến nhiều cơ quan, chức năng của cơ thể như: gây rối loạn tâm thần kinh (loạn thần, trầm cảm, rối loạn lo âu, giảm khả năng tư duy); bệnh tim mạch (nhồi máu cơ tim, đột quỵ); bệnh tiêu hóa (tổn thương gan, xơ gan, viêm tụy cấp tính hoặc mạn tính); ảnh hưởng tới phát triển bào thai; suy giảm miễn dịch… Đặc biệt, chất cồn trong rượu, bia được Tổ chức Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) xếp vào nhóm chất gây ung thư, có thể gây ung thư khoang miệng, họng, thanh quản, thực quản, đại - trực tràng, gan và ở nữ còn thêm ung thư vú. Rượu bia là một trong 5 nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật và tử vong trên toàn thế giới. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới năm 2012, rượu, bia gây ra 3,3 triệu trường hợp tử vong, chiếm 5,9% tổng số tử vong trên toàn cầu và làm mất đi 5,1% số năm sống khỏe mạnh của con người (hiệu chỉnh theo bệnh tật, tương đương 139 triệu năm)2 .
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu gánh nặng bệnh tật toàn cầu, rượu bia là yếu tố nguy cơ xếp thứ 05 trong 15 nguy cơ sức khỏe hàng đầu, là nguyên nhân liên quan đến chấn thương, tai nạn giao thông, rối loạn tâm thần và hành vi, xơ gan, bệnh tim mạch, ung thư, một số bệnh truyền nhiễm. 

b) Tác hại của sử dụng rượu, bia đối với kinh tế 
Sử dụng rượu bia có thể gây ra gánh nặng kinh tế đối với cá nhân, gia đình và toàn xã hội do liên quan đến các phí tổn về chăm sóc sức khỏe, giảm hoặc mất năng suất lao động và giải quyết các hậu quả xã hội khác. Rượu, bia lấy đi một nguồn tài chính rất quan trọng ở người nghèo, gia đình, xã hội nơi người đó sống và là nguyên nhân làm cho tình trạng nghèo đói thêm trầm trọng. Theo thống kê của WHO, phí tổn kinh tế do rượu, bia chiếm từ 1,3% -12% GDP của mỗi quốc gia, trong đó chi phí gián tiếp để giải quyết hậu quả do rượu bia thường cao hơn so với chi phí trực tiếp. Nếu phí tổn kinh tế do rượu, bia tại Việt Nam ở mức thấp nhất thế giới thì thiệt hại đã là khoảng gần 60 nghìn tỷ đồng, gấp trên 1.5 lần mức đóng góp cho ngân sách nhà nước (đóng góp cho ngân sách của ngành sản xuất rượu bia, nước giải khát ở Việt Nam năm 2016 trên 40.000 tỷ đồng tương đương 1,8 tỷ USD)3 . Chi phí kinh tế cho tiêu thụ chỉ riêng đối với bia của Việt Nam mỗi năm tương đương gần 3,4 tỷ USD năm 2015 (3,4 tỷ lít bia, 70 triệu lít rượu công nghiệp tiêu thụ năm 2015, chưa kể lượng rượu thủ công), ước tính gần bằng 3% số thu ngân sách của cả nước (chưa kể đến chi phí gián tiếp). Bên cạnh đó, việc kiểm soát rượu thủ công không hiệu quả làm Nhà nước thất thu thuế cho ngân sách lớn (ước tính ít nhất khoảng 2.000 tỷ đồng/năm). 
Trong đó, các chi phí mà Nhà nước và người dân phải chi để giải quyết các hậu quả liên quan sức khỏe là rất lớn. Ước tính chưa đầy đủ cho thấy tổng gánh nặng trực tiếp của 6 bệnh ung thư mà rượu bia là một trong những nguyên nhân cấu thành chính (ung thư vú, đại trực tràng, gan, khoang miệng, dạ dày, cổ tử cung) đã là 25.789 tỷ đồng chiếm 0,22% tổng GDP năm 2012. Chi phí y tế trực tiếp chưa kể đến vấn đề nuôi dưỡng và chăm sóc để điều trị các rối loạn tâm thần do rượu như: hoang tưởng, ảo giác, rối loạn nhận thức, rối loạn hành vi rất cao (500.000- 1.000.000đ/ngày) là gánh nặng kinh tế rất lớn cho xã hội.

c) Tác hại của sử dụng rượu, bia đối với xã hội
Rượu, bia là một trong 03 nguyên nhân hàng đầu làm gia tăng tỷ lệ tai nạn giao thông tại Việt Nam ở nam giới độ tuổi 15-49. Theo báo cáo của WHO (năm 2014) tai nạn giao thông liên quan đến rượu bia tại Việt Nam ước tính chiếm 36,2% ở nam giới và 0,7% ở nữ giới. Nghiên cứu của WHO trên 18.412 nạn nhân tai nạn giao thông nhập viện thì 28% người đi xe máy có nồng độ cồn trong máu cao hơn mức cho phép (50 mg/dl), 66,8% người lái xe ô tô có nồng độ cồn trong máu cao hơn mức cho phép (0 mg/dl). Theo số liệu thống kê từ Nghiên cứu của Học viện Cảnh sát nhân dân4 , trung bình mỗi năm Việt Nam có 15.000 người chết vì tai nạn giao thông, trong đó 4.800 trường hợp có liên quan đến rượu, bia. Thông tin từ Khoa cấp cứu Bệnh viện Việt Đức, chỉ trong 4 ngày tết Mậu Tuất 2018 có gần 500 ca tai nạn giao thông nhập viện, trong đó hơn 60% có liên quan đến sử dụng rượu, bia.
Bên cạnh đó, sử dụng rượu, bia còn là tác nhân gây bạo lực gia đình, tội phạm, mất an ninh trật tự. Khoảng gần 30% số vụ gây rối trật tự xã hội, 33,7% các vụ bạo lực gia đình có nguyên nhân xuất phát từ việc sử dụng rượu, bia. Sử dụng rượu, bia còn ảnh hưởng đến tâm lý, sức khoẻ của những người xung quanh, gia đình và cộng đồng. Đồng thời, những tổn thất do bị xói mòn về văn hóa, lối sống, đạo đức và chất lượng giống nòi bởi sử dụng rượu, bia gây ra là những gánh nặng xã hội nghiêm trọng không thể so sánh và rất khó lượng hóa.
Sử dụng rượu, bia còn là một trong những nguyên nhân làm gia tăng bất bình đẳng giới và công bằng xã hội: Tình trạng người dân đặc biệt người dân ở các khu vực kém phát triển hơn uống ở mức có hại hiện nay là yếu tố nguy cơ ảnh hưởng bất lợi đến sự phát triển bền vững, đang góp phần gia tăng khoảng cách giàu nghèo, bất công bằng xã hội: Tỷ lệ hộ gia đình ở các khu vực có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn hơn (hộ người dân tộc thiểu số, miền núi, hộ ở nông thôn) có ít nhất một thành viên uống ở mức có hại cao hơn so với người Kinh và người sống ở khu vực thành thị. Tình trạng bạo lực gia đình và thành viên hộ gia đình bị chấn thương liên quan đến rượu bia xảy ra phổ biến hơn ở các gia đình có người uống ở mức có hại; Bạo lực gia đình liên quan đến rượu bia cũng xuất hiện nhiều hơn ở hộ có mức sống thấp.

Cho đến nay, mới có Nghị định số 105/2017/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý sản xuất, kinh doanh rượu và Quyết định số 244/QĐ-TTg ngày 12-4-2014 của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2020. Tuy nhiên, đây mới là chính sách mang tính định hướng, cần được thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao. Thực tế đó đòi hỏi phải có một luật điều chỉnh toàn diện về giảm tiêu thụ rượu, bia; quản lý việc cung cấp rượu, bia; giảm tác hại của rượu, bia. 
Những con số biết nói nêu trên đã thúc đẩy tâm huyết của các đại biểu, Bộ Y tế khi đề xuất và xây dựng luật theo hướng tăng nặng hình phạt, áp chế sự lạm dụng. Dự thảo Luật phòng chống tác hại của rượu bia sẽ được Quốc hội khóa XIV thảo luận và dự kiến thông qua tại kỳ họp thứ 7 sắp tới đang được kỳ vọng sẽ đáp ứng được những điều này.Có thể luật sẽ không phải là giải pháp tốt nhất để chặn đứng lạm dụng bia rượu, nhưng một hành lang pháp lý đủ mạnh bao giờ cũng giúp ngăn chặn hành vi từ trong ý thức. 

Chú thích:
1. Tổ chức Y tế thế giới – WHO, Báo cáo toàn cầu về thực trạng sử dụng rượu, bia và sức khỏe năm 2011. 
2. Tổ chức Y tế thế giới – WHO, Báo cáo toàn cầu về thực trạng sử dụng rượu, bia và sức khỏe năm 2011, 2014
3. Hiệp hội bia rượu, nước giải khát Việt Nam, Báo cáo Đề án đánh giá tác động kinh tế - xã hội của ngành bia tại Việt Nam năm 2014.
4. Học viện Cảnh sát nhân dân (2015), Tình hình phạm pháp hình sự gây rối trật tự công cộng và tai nạn giao thông do ảnh hưởng của rượu bia và đồ uống có cồn: Nghiên cứu trên địa bàn 11 tỉnh, thành phố trong cả nước, giai đoạn 2010-2014.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK