Tăng cường chính sách quản lý của nhà nước đối với ngành Bia rượu
Cập nhật : 15:50 - 28/12/2018

Từ thời Pháp thuộc, chính quyền bảo hộ đã cấm nấu rượu trái phép, đã có “Tây đoan”, “Tàu cáo” (một dạng thanh tra thuế) chuyên đi bắt phạt những gia đình nấu rượu lậu. Từ Cách mạng tháng Tám tới nay, Nhà nước ta đã luôn luôn quan tâm đến vấn đề tuyên truyền , giáo dục và đã có những quy định nhằm bài trừ tệ nạn nấu rượu lậu và nghiện rượu, nên đã hạn chế được một phần so với trước, nhưng vẫn chưa chấm dứt được. Vì vậy, để triệt để bài trừ tệ nạn nấu rượu lậu, ngày 13 tháng 10 năm 1966, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua pháp lệnh quy định cấm nấu rượu trái phép. Pháp lệnh này được Hồ Chủ tịch công bố theo Lệnh số 92-LCT ngày 27 tháng 10 năm 1966. Hội đồng Chính phủ đã ban hành Thông tư số 200-CP ngày 26 tháng 11 năm 1966 hướng dẫn những biện pháp thi hành Pháp lệnh quy định cấm nấu rượu trái phép.

Bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với việc dần hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và sử dụng rượu, bia.

Theo báo cáo của Bộ Y tế đến tháng 12 năm 2016 có đến 85 văn bản quy phạm pháp luật có các quy định liên quan đến ngành Bia – Rượu  Hiện nay, cũng theo Báo cáo của Bộ Y tế thì còn 33 văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đang có hiệu lực, gồm 12 Luật, 9 Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ, 3 Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và 9 Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Bộ trưởng, trong đó có các Luật như: Luật Thương mại, Luật Quảng cáo, Luật Đầu tư, Luật An toàn thực phẩm, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật xử lý vi phạm hành chính…

Tháng 5 năm 2010, Đại hội đồng Y tế thế giới lần thứ 63 đã nhất trí thông qua Nghị quyết về Chiến lược toàn cầu nhằm giảm thiểu tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn. Hưởng ứng Chiến lược toàn cầu này, một số nước đã ban hành chính sách nhằm kiểm soát đồ uống có cồn như Thái Lan, Syrilanca, Singapore,… Về phía Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chính sách quốc gia về phòng chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2020 tại Quyết định số 244/QĐ-TTg ngày 12 tháng 02 năm 2014.

Năm 2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 105/2017/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh rượu (thay thế Nghị định 94/2014/NĐ-CP ngày 12/11/2012 của Chính phủ về sản xuất, kinh doanh rượu). Năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định 15/2018/NĐ-CP thay thế Nghị định số 38/2012/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật An toàn thực phẩm. Hiện nay, Quốc hội đang xem xét về dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia do Bộ Y tế soạn thảo.

Như vậy, có thể nói Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến công tác quản lý ngành Bia – Rượu và có nhiều quy định quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như sử dụng rượu, bia. Các văn bản quy phạm pháp luật này đã có nhiều quy định liên quan các hoạt động sản xuất, kinh doanh và sử dụng rượu, bia. Luật Thương mại quy định rượu là mặt hàng hạn chế kinh doanh. Luật Đầu tư quy định kinh doanh rượu là ngành nghề kinh doanh có điều kiện và các điều kiện này được quy định tại Nghị định 105/2017/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh rượu, trong đó có các quy định về cấm bán rượu cho người dưới 18 tuổi, quy định việc cấp giấy phép đối với các hoạt động sản xuất rượu, phân phối, bán buôn, bán lẻ và bán rượu tiêu dùng tại chỗ. Nghị định 77/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ đã quy định các điều kiện về an toàn thực phẩm đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh bia. Luật Thương mại, Luật Quảng cáo có các quy định về cấm quảng cáo đối với các loại rượu có nồng độ cồn trên 15 độ. Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt quy định rượu, bia là hàng hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất hiện nay là 65%. Luật Giao thông đường bộ quy định về nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện giao thông, trong đó người điều khiển phương tiện xe ô tô, xe máy… không được có nồng độ cồn trong máu hoặc khí thở. Luật xử lý vi phạm hành chính quy định các hình thức xử phạt nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm quy định của pháp luật về sản xuất, kinh doanh và sử dụng rượu, bia.

Các quy định này đã tạo điều kiện cho ngành phát triển ổn định, bền vững và đóng góp cho ngân sách nhà nước, đồng thời góp phần bảo vệ sức khỏe của nhân dân. Cũng từ những quy định này cho thấy, nhà nước đã quản lý tốt đối với sản xuất, kinh doanh bia và rượu sản xuất công nghiệp. Tuyên truyền, giáo dục để người dân nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, sử dụng bia, rượu chừng mực, không lạm dụng, chấp hành tốt các quy định về an toàn giao thông, uống có trách nhiệm… 

Tuy nhiên, trong thực tế còn nhiều quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật này chưa đi vào cuộc sống do những hạn chế của bản thân một số quy định chưa có tính khả thi và công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật, do việc triển khai thực hiện chưa nghiêm.

Để các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành đi vào cuộc sống, các cơ quan quản lý nhà nước cần đẩy mạnh việc tuyên truyền và thực hiện thật nghiêm túc những quy định đã có trong các văn bản quy phạm pháp luật và trong trường hợp cần thiết có thể điều chỉnh, bổ sung một số quy phạm pháp luật trong các văn bản đã ban hành là đã có thể kiểm soát tốt, tạo điều kiện cho ngành ổn định và phát triển, đóng góp cho sự phát triển kinh tế của đất nước.

Nhu cầu sử dụng rượu, bia phù hợp với văn hóa ẩm thực của người Việt Nam. Nếu hạn chế nguồn cung trong khi nhu cầu vẫn có sẽ dẫn đến tình trạng gia tăng vấn nạn nhập lậu, hàng nhái, hàng giả và Nhà nước sẽ phải chi ra một nguồn kinh phí không nhỏ để phòng chống vấn nạn này. Nguy hiểm hơn, nếu sản xuất trong nước không đáp ứng nhu cầu và vấn nạn nhập lậu, hàng nhái, hàng giả gia tăng sẽ dẫn đến sản xuất trong nước bị đình trệ, ảnh hưởng lớn tới nguồn thu ngân sách của Nhà nước.

Cũng tại Kỳ họp thứ Sáu, Quốc hội khóa XIV vừa qua, trong ngày họp 16/11/2018, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại hội trường về dự án Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia. Dự thảo Luật trình xin ý kiến Quốc hội tại kỳ họp này gồm 7 chương, 38 điều, quy định các biện pháp phòng, chống tác hại của rượu, bia, bao gồm: biện pháp giảm mức tiêu thụ rượu, bia; biện pháp quản lý việc cung cấp rượu, bia; biện pháp giảm tác hại của rượu, bia; điều kiện bảo đảm cho phòng, chống tác hại của rượu, bia; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống tác hại của rượu, bia. Tại dự thảo trình Quốc hội cho ý kiến lần này, nhiều quy định đã được chỉnh lý như: về tên gọi của dự thảo Luật; về phạm vi điều chỉnh; về kinh phí cho hoạt động phòng, chống tác hại của rượu bia.

Trong phiên họp tổ về nội dung này, nhiều ý kiến đại biểu đồng tình với sự cần thiết ban hành Luật nhằm tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; chủ động có giải pháp phòng ngừa và ngăn chặn thực trạng sử dụng rượu, bia đang có xu hướng gia tăng.

Bên cạnh đó, các đại biểu cũng đóng góp nhiều ý kiến cụ thể, tập trung vào một số nội dung: tên gọi của Luật; bố cục, phạm vi điều chỉnh; tính khả thi của dự án Luật; chính sách trong phòng, chống tác hại của rượu, bia; quản lý rượu thủ công; cơ chế kiểm soát, chế tài xử phạt đối với tổ chức, cá nhân sản xuất rượu, bia và tiêu dùng không đúng quy định; các hành vi bị nghiêm cấm; độ tuổi uống rượu, bia; kiểm soát việc quảng cáo rượu, bia…

Tóm lại, Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập đã và đang tham gia các hiệp ước song phương, đa phương như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) với sự đầu tư trong  nước và nước ngoài ngày một tăng. Vì vậy, khi xây dựng chính sách, pháp luật đối với ngành rượu bia trong quá trình hội nhập cần phải đánh giá đúng thực trạng để chính sách, pháp luật vừa tăng cường chức năng quản lý, kiểm soát vừa thu hút đầu tư, đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước.

TTBD

Tham khảo:
1. Hiệp hội Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam, “Ngành bia – rượu ở Việt Nam: Thực trạng và chính sách quản lý”, tháng 10/2018.
2. Chính sách với ngành rượu bia – cẩn trọng kẻo lợi bất cập hại!
http://www.vba.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=29774:chinh-sach-vi-nganh-ru-bia-cn-trng-ko-li-bt-cp-hi&catid=147:tp-chi-tt-2017&Itemid=343

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK