Chỉ số PCI với việc HĐND tỉnh tổ chức thực hiện giám sát và ban hành chính sách tại địa phương tỉnh Thái Nguyên
Cập nhật : 16:56 - 03/12/2018
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, có diện tích tự nhiên là 3.562,82 km2, dân số 1,16 triệu người, với 9 đơn vị hành chính cấp huyện (6 huyện, 2 thành phố và 1 thị xã), 180 đơn vị hành chính cấp xã (140 xã, 30 phường, 10 thị trấn); là trung tâm chính trị, kinh tế của vùng trung du miền núi Đông Bắc nói chung, của khu Việt Bắc nói riêng, là cửa ngõ giao lưu kinh tế - giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tỉnh Thái Nguyên có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế: Về công nghiệp, tỉnh có các Khu công nghiệp lớn như khu công nghiệp Điềm Thụy, khu công nghiệp Sông Công, khu công nghiệp Yên Bình… với sự có mặt của tập đoàn Samsung - Hàn Quốc, Công ty TNHH khai thác và chế biến khoáng sản Núi Pháo… Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong những năm gần đây được duy trì ở mức cao, năm 2017 đạt 12,6% cao hơn 2 lần so với bình quân chung của cả nước. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2017 đạt trên 571.000 tỷ đồng, đứng thứ 7 cả nước. GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 46,4 triệu đồng, đến năm 2018 đạt 76 triệu đồng. Thu ngân sách hằng năm luôn vượt mục tiêu đề ra. 

Trong những năm qua, với nỗ lực của các ngành, các cấp, sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên, môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh đã không ngừng được cải thiện, vai trò, vị thế của tỉnh Thái Nguyên ngày một nâng cao. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI trong những năm gần đây luôn đứng trong top đầu của cả nước. Từ vị trí thứ 57/63 tỉnh, thành trong năm 2011 đã vươn lên thứ 8 năm 2014 và 2015; năm 2016 vươn lên giữ vị trí thứ 7; năm 2017 xếp thứ 15/63 tỉnh, thành phố nhưng tổng điểm của tỉnh vẫn đạt cao, vượt 3 điểm so với năm 2016.

Đối với hoạt động của chính quyền địa phương tỉnh Thái Nguyên, chỉ số PCI một trong những là tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá về môi trường kinh doanh, năng lực điều hành kinh tế và nỗ lực cải cách hành chính của chính quyền địa phương tỉnh Thái Nguyên. Thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo Luật tổ chức chính quyền địa phương và quy định của pháp luật, từ năm 2013 đến nay, HĐND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành 14 Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, khả thi.

Nhiều cơ chế, chính sách của HĐND tỉnh sau khi ban hành đã có tác động tích cực, tạo ra bước ngoặt lớn về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên, tiêu biểu như: Nghị quyết số 03/2013/NQ-HĐND ngày 26/4/2013 ban hành ưu đãi đầu tư đối với Dự án Tổ hợp công nghệ cao Samsung Thái Nguyên của công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên, Dự án sản xuất các bộ vi xử lý và mạch tích hợp của Công ty Samsung Electro-Mechanics Co,Ltd và 02 dự án công ty con thuộc Tập đoàn Samsung tại Khu công nghiệp Yên Bình, tỉnh Thái Nguyên (ưu đãi giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp, hỗ trợ 50% tiền thuê hạ tầng của dự án); Nghị quyết số: 63/NQ-HĐND Thái Nguyên, ngày 12/12/2014 Về ban hành chính sách ưu đãi đầu tư đối với Dự án Tổ hợp công nghệ cao Samsung Thái Nguyên-giai đoạn 2 (dự án SEVT2); Nghị quyết số: 30/2013/NQ-HĐND ngày 12/12/2013 quy định chính sách thu hút nguồn nhân lực và chính sách luân chuyển cán bộ, công chức của tỉnh Thái Nguyên; Nghị quyết số 21/ NQ-HĐND ngày 12/8/2016 quy định chính sách hỗ trợ đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020; Nghị quyết số 26/ NQ-HĐND ngày 12/8/2016 quy định về cơ chế, chính sách thu hút xã hội hóa đầu tư và khai thác bến xe khách trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. 

Các nghị quyết sau khi ban hành đã được các cấp, các ngành triển khai thực hiện có hiệu quả, tạo cơ chế chính sách thu hút đầu tư, xây dựng và phát triển hạ tầng cơ sở, tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng nguồn nhân lực… Kết quả đã có nhiều nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đến đầu tư tại tỉnh Thái Nguyên, tiêu biểu là tập đoàn Samsung, kéo theo sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp phụ trợ, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách tỉnh, tạo việc làm cho người lao động, mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, góp phần đưa chỉ số PCI của tỉnh Thái Nguyên đạt thứ hạng cao.

Đặc biệt hàng năm, việc xem xét, đánh giá các tiêu chí thành phần của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI đã chỉ ra tỉnh Thái Nguyên đang đứng ở đâu trên bậc thang hài lòng của người dân và doanh nghiệp, chất lượng phục vụ của bộ máy Nhà nước còn hạn chế và thiếu sót ở khâu nào, căn cứ vào đó HĐND tỉnh Thái Nguyên ban hành Nghị quyết phát triển kinh tế xã hội với nhiều giải pháp đặt ra nhằm cải cách thủ tục hành chính về thuế, hải quan, cấp phép xây dựng, đất đai, thủ tục đầu tư, thành lập doanh nghiệp... để tạo ra môi trường thông thoáng hơn nữa cho người dân và doanh nghiệp trong việc tiếp cận và thực hiện các thủ tục hành chính; đồng thời tạo ra môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, từ đó nâng cao hình ảnh và môi trường kinh doanh của tỉnh; nghiên cứu, rà soát và bãi bỏ các quy định, thủ tục không còn phù hợp với các quy định hiện hành.

Việc xem xét, đánh giá chỉ số CPI cũng là một trong những căn cứ quan trọng để HĐND tỉnh, Thường trực HĐND tỉnh, các Ban HĐND tỉnh Thái Nguyên lựa chọn chủ đề để tổ chức thực hiện giám sát. Không phải PCI cao là tất cả đều tốt, mà cần phải tiếp tục rà soát, đánh giá để cải thiện nhiều hơn nữa môi trường đầu tư, kinh doanh sao cho thông thoáng, minh bạch và công bằng. Dựa vào các nội dung, các chỉ số thành phần có trong các bộ chỉ số đánh giá, dựa vào kết quả cụ thể tại từng chỉ số thành phần để thấy được điểm mạnh, điểm yếu của địa phương. Từ đó, HĐND tỉnh lựa chọn vấn đề cần thiết phải tổ chức giám sát. Các cuộc giám sát đã thực hiện có tham khảo kết quả đánh giá chỉ số CPI như: Giám sát việc thực hiện pháp luật quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thuế, phí và lệ phí trên địa bàn tỉnh năm 2016 và năm 2017; giám sát công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 – 2017... Qua giám sát, HĐND tỉnh đã kiến nghị, đề xuất và yêu cầu UBND tỉnh, các cơ quan chức năng đẩy mạnh hơn công tác cải cách hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, tăng cường quản lý nhà nước về đất đai, tháo gỡ cho doanh nghiệp những khó khăn, vướng mắc về thuế, phí và lệ phí; chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý, điều hành, bảo đảm công khai, minh bạch. Do đó hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước từng bước được nâng cao, môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh ngày càng được cải thiện. Hàng năm, Thường trực HĐND tỉnh, các Ban HĐND tỉnh đều có phiếu đánh giá về mức độ hài lòng đối với việc thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan chức năng thuộc UBND tỉnh.

Bên cạnh những kết quả đạt được trong việc sử dụng chỉ số PCI trong hoạt động giám sát và ban hành chính sách của HĐND tỉnh, hiện nay việc sử dụng chỉ số PCI vẫn còn hạn chế như:
- Còn nhiều đại biểu chưa hiểu sâu, hiểu rõ về chỉ số PCI, các tiêu chí thành phần của PCI để áp dụng trong hoạt động thực tiễn của HĐND. Nguyên nhân là các đại biểu chưa chủ động tìm hiểu, nhận thức được về tầm quan trọng của chỉ số CPI đối với phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, cũng như hoạt động giám sát và ban hành cơ chế, chính sách của HĐND. 
- Việc theo dõi, cập nhật diễn biến của chỉ số CPI chưa được thường xuyên, chủ yếu là lãnh đạo HĐND tỉnh thông qua các báo cáo của UBND tỉnh, dự các hội nghị công bố kết quả, thông tin về PCI.
- Chưa tổ chức thực hiện giám sát chuyên đề về việc nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh CPI trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Trong thời gian tới đây, Thường trực HĐND tỉnh Thái Nguyên sẽ tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, quán triệt đến các đại biểu HĐND tỉnh về vai trò, tầm quan trọng của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh – PCI đến các đại biểu HĐND tỉnh. Qua đó áp dụng có hiệu quả chỉ số PCI trong việc nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND. 

TTBD
 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK