Chính sách hội tụ ngành ở Việt Nam
Cập nhật : 17:09 - 29/10/2018

Ở Việt Nam, khái niệm hội tụ ngành hoặc cụm liên kết ngành chưa được hiểu thống nhất. Nhiều trường hợp, có một số nhận thức không hoàn toàn chính xác như sau:
- Hiểu cụm liên kết ngành – tức là các khu hội tụ ngành bậc cao giống như Silicon Valley hay Massachusetts Route 128 ở Mỹ – như cụm công nghiệp. Vì thế, cụm công nghiệp đa ngành hoặc cụm công nghiệp làng nghề của Việt Nam nhiều khi được biên dịch sang tiếng Anh là "cluster". Trong khi đó, cụm công nghiệp chỉ là dạng khu công nghiệp quy mô nhỏ có kết cấu hạ tầng trong khu kém phát triển và làm nơi cung cấp mặt bằng sản xuất cho các doanh nghiệp tiểu thủ công nghiệp và doanh nghiệp quy mô rất nhỏ.
- Hiểu đúng về cụm liên kết ngành, nhưng từ đó thấy Việt Nam chưa có cụm liên kết ngành thực sự thì đồng thời phủ nhận hội tụ ngành ở Việt Nam.
- Hiểu "industrial cluster" là nơi tập trung các nhà máy công nghiệp, dẫn tới việc không chú ý đến khu tập trung các doanh nghiệp dịch vụ cùng ngành hoặc các ngành có liên quan. Trong thực tế, lĩnh vực dịch vụ còn hay có xu hướng quần tụ hơn cả lĩnh vực công nghiệp.
- Đánh đồng cụm liên kết ngành với mạng lưới doanh nghiệp mà không chú ý đến mật độ doanh nghiệp trong một phạm vi địa lý có giới hạn.
- Ít quan tâm tới các hoạt động đổi mới – sáng tạo, khởi nghiệp khi bàn về hội tụ ngành/cụm liên kết ngành.
- Khi xem xét hội tụ ngành nói chung, lại chỉ chú ý đến sự quần tụ doanh nghiệp chứ không quan tâm đến liên kết và mạng lưới giữa doanh nghiệp với nhau và giữa doanh nghiệp với các nhân tố khác.
- Bàn về liên kết doanh nghiệp – trường đại học hay liên kết doanh nghiệp – khoa học mà không quan tâm tới điều kiện quần tụ các chủ thể này.
Điều này hoàn toàn dễ hiểu, vì ngay cả ở nước ngoài và ngay trong giới khoa học nước ngoài, hội tụ ngành cũng được gọi bằng nhiều tên khác nhau và đồng thời thuật ngữ "cluster" cũng được sử dụng lúc thì để chỉ khu hội tụ ngành bậc cao lúc thì lại để dùng thay thế cho khu hội tụ ngành.

1. Các khu hội tụ ngành ở Việt Nam
Ở Việt Nam, dạng sơ khai của các khu hội tụ ngành đã có từ lâu, đó là những làng nghề, phố nghề thủ công nghiệp truyền thống. Thời Pháp thuộc, do Pháp không chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở công nghiệp chế biến, chế tạo ở các thuộc địa, nên sự tập trung sản xuất của các ngành không rõ.

Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, công nghiệp  được đẩy mạnh, nhưng do ảnh hưởng của tư duy địa lý công nghiệp mang nặng tính thời chiến (phân tán, sâu trong nội địa) của Liên Xô, sự hội tụ theo ngành cũng như các ngành công nghiệp hiện đại cũng không rõ. Mặc dù người ta vẫn gọi Nam Định là "thành phố dệt", Thái Nguyên là "thành phố gang thép", song thời đó vẫn chỉ là những nơi có cơ sở sản xuất lớn và hiện đại, hoàn toàn không phải là sự tập trung số đông doanh nghiệp cùng ngành. Thời kỳ đó cũng đã có một số cụm công nghiệp ra đời, nhưng chỉ đơn giản là địa bàn sản xuất công nghiệp, diện tích nhỏ, không có sự tập trung theo ngành và không có liên kết giữa các doanh nghiệp.

Ở miền Nam Việt Nam, do chiến tranh, công nghiệp không phát triển. Tuy nhiên chính quyền Sài Gòn đã thành lập các khu công nghiệp Biên Hòa, Phong Dinh (Cần Thơ), An Điền – Nông Sơn (Quảng Ngãi).

Hội tụ công nghiệp hiện đại bắt đầu thấy rõ từ khi kinh tế thị trường được tạo cơ hội phát triển ở Việt Nam cuối thập niên 1980. Hàng loạt khu công nghiệp hình thành ở Hà Nội và các tỉnh lân cận, các tỉnh Đông Nam Bộ.

Các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như Riedel & Record (2004), Kuchiki, Ercole (2013), Howard & Newman & Thijssen (2013), Howard & Newman & Rand & Tarp (2014), Howard & Newman & Tarp (2014) đều khẳng định hiện tại Việt Nam đang có những khu hội tụ ngành chế biến, chế tạo. Ercole (2013) dựa vào khảo sát các ngành kinh tế cấp 2 (trong hệ thống phân ngành kinh tế Việt Nam của Tổng cục Thống kê) và phát hiện thấy các doanh nghiệp sử dụng công nghệ thấp (may mặc, da – giày, chế biến thực phẩm) có xu hướng hội tụ nhiều hơn doanh nghiệp sử dụng công nghệ vừa và cao. Trái lại, Howard và đồng nghiệp dựa vào khảo sát các ngành kinh tế cấp 4 lại phát hiện thấy doanh nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam có xu hướng hội tụ rõ hơn.

Chương trình đồng bộ phát triển và nâng cấp cụm ngành và chuỗi giá trị sản xuất các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 1/2015 xác định Việt Nam hiện có một số khu hội tụ ngành sau:
- Hội tụ ngành điện tử gia dụng ở Bình Dương.
- Hội tụ ngành điện tử nghe nhìn ở khu vực các tỉnh/thành phố Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, thành phố Hà Nội, Hải Dương.
- Hội tụ ngành sản phẩm công nghệ thông tin và dịch vụ liên quan, gồm các khu: Hà Nội; Đà Nẵng; Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hội tụ ngành dệt sợi – may mặc gồm các khu: Cụm các tỉnh Thái Bình – Nam Định – Ninh Bình và Bắc Giang; Thành phố Hồ Chí Minh; Khu vực miền Trung.
- Hội tụ ngành chế biến sản phẩm thủy sản gồm các khu: Duyên hải miền Trung; Các tỉnh vùng Tây Nam Bộ.
- Hội tụ ngành chế biến nông sản gồm các khu: Các tỉnh trung du phía Bắc; Các tỉnh duyên hải và cao nguyên miền Trung.
- Hội tụ ngành máy và thiết bị nông nghiệp gồm các khu: Hành lang Hà Nội – Hải Dương – Hải Phòng; Cụm Thành phố Hồ Chí Minh – Long An – Đồng Nai.
Qua khảo sát điền dã, các chuyên gia nhận thấy có sự hội tụ ngành (tập trung sản xuất và liên kết cung ứng) của một số ngành ngoài các khu vực đã được Chính phủ đề cập, chẳng hạn như:
- Hội tụ ngành lắp ráp ô tô gồm các khu:
+ Phía bắc Hà Nội: Đông Anh, Sóc Sơn, Mê Linh của Hà Nội và Phúc Yên của Vĩnh Phúc. Ngoài ra, có thể gộp thêm Thanh Trì (thực ra ở phía Nam Hà Nội), Gia Viễn (Ninh Bình) và thành phố Hải Dương vào khu phía bắc này. Ở đây có các công ty xuyên quốc gia như Toyota, Honda, Ford, Chevrolet, Yamaha; các công ty ô tô xe máy của Việt Nam như Xuân Kiên, Tổng công ty Công nghiệp Ô tô, các đối tác lắp ráp của Hyundai, BMW,… Các nhà cung linh kiện ô tô OEM và AM như Denso, Toyota Boshoku.
+ Khu phía Nam ở Gò Vấp (Thành phố Hồ Chí Minh), Biên Hòa (Đồng Nai), Dĩ An (Bình Dương). Tại đây có các nhà máy lắp ráp ô tô Suzuki, Mitsubishi, Mercedes–Benz. Các nhà cung ứng linh kiện xuyên quốc gia như Robert Bosch, Continental AG,…
+ Ngoài ra, ở miền Trung cũng có khu hội  tụ  ngành ô  tô nhỏ tại Đà Nẵng và Chu Lai (Quảng Nam), ở đây có Nissan, Trường Hải (đối tác lắp ráp CKD của KIA, Mazda, Peugeot).
- Hội tụ ngành công nghiệp tàu thủy ở ba khu: Hải Phòng – Quảng Ninh ở phía Bắc; Thành phố Hồ Chí Minh – Đồng Nai – Bà Rịa – Vũng Tàu ở phía Nam; Miền Trung có hai khu nhỏ, một ở Quảng Ngãi và một ở Khánh Hòa cách nhau khoảng 450 km.
- Hội tụ ngành da – giày gồm hai khu: Khu lớn nhất là khu vực Thành phố Hồ Chí Minh – Đồng Nai – Bình Dương; và khu vực Hà Nội.
- Trong lĩnh vực dịch vụ, có thể thấy rõ xu hướng hội tụ của dịch vụ tài chính ở hai trung tâm kinh tế Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, dịch vụ logistics ở thành phố Hồ Chí Minh, dịch vụ nghỉ dưỡng cao cấp ở Đà Nẵng – Hội An, Nha Trang, Phan Thiết.
- Hội tụ ngành trồng và chế biến cà phê ở Tây Nguyên. Có thể xem cụm này lan ra cả một phần Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ giáp Tây Nguyên.
- Hội tụ ngành chế biến chè gồm hai khu: Phú Thọ – Yên Bái ở phía Bắc; Lâm Đồng ở phía Nam.
Thực tiễn Việt Nam cho thấy, đúng là hội tụ sản xuất có tác động tích cực tới năng suất lao động của doanh nghiệp.

2. Chính sách hội tụ ngành ở Việt Nam
Liên quan đến chính sách hội tụ ngành một cách chính thức, Việt Nam đã có các chính sách như:
- Chương trình đồng bộ phát triển và nâng cấp cụm ngành và chuỗi giá trị sản xuất các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh: điện tử và công nghệ thông tin, dệt may, chế biến lương thực thực phẩm, máy nông nghiệp, du lịch và dịch vụ liên quan. (Quyết định số 32/QĐ­TTg ngày 13/01/2015.)

- Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa để phát triển các cụm liên kết ngành trong chuỗi giá trị khu vực nông nghiệp nông thôn được công bố trong một tài liệu dài 7 trang bao gồm cả quyết định phê duyệt đề án. (Quyết định số 644/QĐ­TTg ngày 05/5/2014)

- Khung theo dõi đánh giá và tình hình thực hiện kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2011 – 2015. (Quyết định số 1241/QĐ­BKHĐT ngày 10/9/2013). Trong khung này có nội dung về hình thành cụm liên kết, cụm ngành công nghiệp.

- Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. (Quyết định số 879/QĐ­TTg ngày 09/06/2014 của Thủ tướng Chính phủ) Chiến lược này yêu cầu: “xây dựng cơ chế và chính sách ưu đãi cho khu, cụm công nghiệp chuyên sâu và khu, cụm công nghiệp hỗ trợ… ban hành chính sách khuyến khích các cụm liên kết ngành (cluster) theo các lĩnh vực công nghiệp có lợi thế”. Tuy nhiên, kể cả khi đề cập đến các ngành công nghiệp ưu tiên, chiến lược này cũng không quy định cụ thể các địa bàn tập trung chuyên ngành, các khu hội tụ ngành.
Chính sách hội tụ ngành có thể xem là sự giao thoa của các chính sách công nghiệp, chính sách phát triển vùng và chính sách khoa học công nghệ. Nếu xem xét từ góc độ này, ta thấy chính sách hội tụ ngành của Việt Nam thể hiện ở các kế hoạch sau đây.

Về chính sách công nghiệp, chẳng hạn như:
- Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. (Quyết định số 880/QĐ­TTg ngày 09/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ). Quy hoạch này đề ra định hướng phát triển chung cho toàn ngành công nghiệp cũng như cho từng ngành trong 10 ngành cùng với công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên, chỉ khi đề cập đến công nghiệp hỗ trợ trong ngành cơ khí, quy hoạch này mới có yêu cầu về địa bàn cụ thể ưu tiên phát triển ngành: "xây dựng các khu, cụm công nghiệp hỗ trợ cơ khí tại Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Phong, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Tây Ninh và Đà Nẵng".
- Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020. (Quyết định số 177/2004/QĐ­TTg ngày 05/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ). Quy hoạch này yêu cầu: "Khuyến khích việc bố trí các dự án sản xuất, lắp ráp ô tô và sản xuất phụ tùng tại ba vùng kinh tế trọng điểm và các địa bàn lân cận nhằm tận dụng các lợi thế sẵn có, gồm: miền Bắc: các tỉnh, thành phố trong và giáp ranh khu vực Tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh; miền Trung: các tỉnh từ Thanh Hoá đến Khánh Hoà; miền Nam: các tỉnh, thành phố trong và giáp ranh khu vực Tứ giác tăng trưởng kinh tế thành phố Hồ Chí Minh – Bà Rịa – Vũng Tàu – Đồng Nai –Bình Dương; thành phố Cần Thơ".
- Chiến lược phát triển ngành Công nghiệp Dệt may Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.151 Chiến lược này quy định: Xây dựng các trung tâm thời trang, các đơn vị nghiên cứu thiết kế mẫu, các Trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu và thương mại tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn. Đồng thời, Chiến lược yêu cầu các khu, cụm công nghiệp chuyên ngành dệt may, các vùng chuyên canh bông, nhưng không quy định vị trí cụ thể.
- Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp áp dụng công nghệ cao đến năm 2020. (Quyết định số 53/2008/QĐ­BCT ngày 30/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Công Thương). Chiến lược này không có quy định nào về địa bàn tập trung phát triển của từng phân ngành công nghệ cao.
Về chính sách phát triển vùng, gồm có:
- Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam theo các vùng lãnh thổ đến năm 2010, tầm nhìn năm 2020. Ban hành năm 2006 kèm theo 73/2006/QĐ–TTg. Kế hoạch này chỉ đề cập đến vùng rộng (chia cả nước thành 7 vùng) chứ không đề cập đến vùng có bán kính 50 km phù hợp với chế độ cung ứng just–in–time. Thêm vào đó, việc phân vùng theo ngành không rõ, nhiều ngành có ở đồng thời nhiều vùng, có vùng đồng thời quá nhiều ngành.
- Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.( Quyết định số 1107/QĐ­TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ). Quy hoạch này không quy định ngành kinh tế gắn với khu công nghiệp, mà chỉ yêu cầu chung chung: "Có các biện pháp, chính sách chuyển đổi cơ cấu các ngành công nghiệp trong các khu công nghiệp đã và đang xây dựng theo hướng hiện đại hóa phù hợp với tính chất và đặc thù của các địa bàn lãnh thổ… Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch và tình hình phát triển kinh tế xã hội; quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của từng địa phương".
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Hồng; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng Đông Nam Bộ; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên đến năm 2020; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và một số quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội một số tiểu vùng khác. Các quy hoạch này chỉ đề cập đến ngành ưu tiên của toàn vùng, không đề cập đến bất kỳ địa bàn tỉnh, thành, quận, huyện tập trung sản xuất chuyên ngành nào.
Một số quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, thành ở Việt Nam ban hành thời gian gần đây đã có những nét của chính sách hội tụ ngành khi đề cập đến phát triển một số ngành cụ thể đã quy định phát triển ngành đó ở địa điểm nào hay khu công nghiệp nào trong tỉnh. Tiêu biểu là quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020.

Hầu hết các quy hoạch trên đều có giải pháp về khoa học–công nghệ, song đều đề cập ở mức sơ lược.

TTBD

Tham khảo:
Nguyễn Bình Giang, Phạm Thị Thanh Hồng (đồng chủ biên), Xây dựng chính sách hội tụ ngành: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế, NXB Bách khoa Hà Nội, 2015

Danh sách góp ý
 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK