CÔNG DÂN KIỂM SOÁT HÀNH CHÍNH CÔNG Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ CÓ THỂ THAM KHẢO Ở VIỆT NAM
Cập nhật : 11:00 - 19/03/2018
1. Đặt vấn đề Hành chính công và kiểm soát hành chính công là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt cả ở thế giới và Việt Nam. Với xu thế dân chủ, nhiều nước trên thế giới đã thiết lập các phương thức kiểm soát hành chính công từ phía công dân, xã hội, báo chí, bảo đảm hành chính công hoạt động trong khuôn khổ pháp lý, chống lạm quyền, tham nhũng và xâm phạm lợi ích công dân. Ở Việt Nam, kiểm soát hành chính công từ phía xã hội chưa thực sụ hiệu quả. Điều này, một mặt thể hiện hệ thống pháp lý chưa hoàn thiện, mặt khác, thể hiện sự lúng túng trong việc xác định vai trò, phương thức, nội dung, đối tượng kiểm soát hành chính công. Đặc biệt, hiện nay chúng ta đang xây dựng Luật Hành chính công – Một Dự án Luật thu hút nhiều sự quan tâm của xã hội. Trong các nội dung lớn của Dự thảo Luật, vấn đề kiểm soát hành chính công từ phía công dân, xã hội được nhiều người kỳ vọng sẽ góp phần quan trọng hoàn thiện pháp lý, phương thức kiểm soát hành chính công, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, chạy chức quyền, sai phạm trong công tác cán bộ... như thời gian qua. Việc nghiên cứu kinh nghiệm kiểm soát hành chính công của một số nước trên thế giới từ phía công dân, xã hội, báo chí sẽ cho thấy những giá trị có thể tham khảo ở Việt Nam cũng như trong xây dựng Luật Hành chính công. 2. Kiểm soát hành chính công một số quốc gia trên thế giới 2.1. Kiểm soát hành chính công ở Hoa Kỳ Tuy có những “biến thể” khác nhau, đặc thù chính trị ở Mỹ nói riêng và nhiều nước phương Tây nói chung hiện nay đều dựa trên nền tảng là học thuyết phân chia quyền lực nhà nước “tam quyền phân lập” – phân chia quyền lực nhà nước thành ba nhánh quyền có khả năng “kiềm chế, đối trọng” lẫn nhau là lập pháp – hành pháp – tư pháp, trong đó hành pháp là trung tâm của quyền lực nhà nước. Ở Mỹ, Tổng thống là người đứng đầu nhánh hành pháp toàn Liên bang, do cử tri Mỹ bầu lên thông qua một cuộc bầu cử “có một không hai” . Ở các bang, đứng đầu nhánh hành pháp là Thống đốc do cử tri bầu trực tiếp. Với cơ chế dân bầu trực tiếp người đứng đầu nhà nước (bang và liên bang), các đảng phái có ứng viên tranh cử và trực tiếp các ứng viên muốn đắc cử phải đưa ra những chiến lược, kế hoạch hay chương trình hành động cụ thể để thu hút số phiếu của cử tri. Cũng từ đây, Tổng thống hay Thống đốc đắc cử phải có trách nhiệm với những gì mình đã cam kết khi tranh cử, cử tri cũng căn cứ vào đó để để giám sát Tổng thống hay Thống đốc thực hiện. Bên cạnh đó còn có hình thức tranh biện, đối thoại giữa các ứng cử viên Tổng thống hay Thống đốc trước công dân. Thực chất của hình thức này cũng là sự phản biện để tạo điều kiện cho công dân, cử tri giám sát, đánh giá các quan điểm chính trị của người đại diện cho đảng tham gia tranh cử. Thậm chí, ngay trong hoạt động bầu cử Tổng thống Mỹ cũng được theo dõi bởi hàng loạt đơn vị giám sát liên bang, các nhóm bảo vệ quyền bầu cử, thậm chí là nhiều chuyên gia quốc tế. Cơ chế này cho đến nay vẫn cho thấy tính hiệu quả của việc phát huy khả năng kiểm soát của công dân đối với hoạt động quản lý nhà nước. Sự tham gia rộng rãi của công dân Mỹ trong kiểm soát hoạt động quản lý hành chính nhà nước dẫn đến sự ra đời của nhiều tổ chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân, hiệp hội nghề nghiệp, các hội nhóm,... với các hoạt động nhằm đánh giá hay phản biện về hiệu quả của quản lý hành chính nhà nước, bên cạnh các tổ chức do chính các Chính phủ bang hoặc liên bang thành lập. Các tổ chức này hoạt động một cách độc lập và đưa ra những phương pháp đánh giá có cơ sở khoa học như điều tra xã hội học, nghiên cứu chính sách – pháp lý, so sánh với chính sách của các quốc gia khác hoặc chính sách của các đời Tổng thống hay Thống đốc trước đây. Quy mô, phạm vi hoạt động của các tổ chức này cũng khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực mà các tổ chức này tham gia nghiên cứu, phản biện như chính sách kinh tế, giáo dục, y tế hay môi trường,… Các khuyến nghị của các tổ chức này đưa ra sau khi nghiên cứu một vấn đề nào đó thường được đưa ra thảo luận công khai, rộng rãi hoặc lên bàn nghị sự của Nghị viện, buộc các cơ quan hành pháp phải lưu tâm và xử lý. Các phương thức kiểm soát hiệu quả của công dân đối với quản lý hành chính nhà nước luôn là một câu hỏi lớn đối với thể chế hành chính của các quốc gia. Ở Mỹ, quyền tự do báo chí, tự do xuất bản là một trong những quyền quan trọng của công dân đảm bảo cho sự giám sát có hiệu quả của công dân đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Quyền tự do báo chí, tự do xuất bản ở Mỹ là một phần của quyền tự do ngôn luận được bảo vệ bởi Tu chính án số 1 (First Amendment) của Tuyên ngôn Nhân quyền (the Bill of Rights) năm 1791: “Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình.” Ở Mỹ, truyền thông công cộng, báo chí phải đảm bảo nguyên tắc “độc lập với nhánh hành pháp; thực sự có tính đa nguyên; có thể dễ dàng tiếp cận ở mọi lúc mọi nơi; với kinh phí phù hợp theo những nhiệm vụ được pháp luật quy định; và chúng phải có sự tham gia của cộng đồng và cơ chế trách nhiệm”. Chúng ta rất dễ dàng bắt gặp sự phản ứng của truyền thông, báo chí Mỹ một cách độc lập, khách quan, thường ít bị chi phối bởi chính trị trong các cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ. Các đài truyền hình, các tờ báo có thể bình luận, thậm chí đánh giá gay gắt về các ứng viên tranh cử, hay giám sát trực tiếp các điểm bỏ phiếu của cử tri. Đặc biệt, báo chí Mỹ luôn có hoạt động điều tra khảo sát, hay thăm dò ý kiến cử tri Mỹ trong các cuộc bầu cử, từ đó đưa ra các kết quả phân tích. Các kết quả phân tích này thường đóng vai trò quan trọng quyết định đến hoạt động tranh cử của các ứng viên, đến tâm lý cử tri Mỹ khi đi bầu Tổng thống. Thông thường, các ứng viên có kết quả thăm dò khả quan, chiếm tỷ lệ cao hơn ứng viên còn lại thường giành phần thắng. Tuy nhiên cũng có một số trường hợp các kết quả thăm dò đi ngược với kết quả bầu cử Tổng thống Mỹ. Nghị viện Mỹ cũng thường dựa vào các phóng sự điều tra và các tin bài tổng hợp trên truyền thông, báo chí để buộc Chính phủ Mỹ có trách nhiệm giải trình. Cùng với báo chí, Nghị viện, người dân Mỹ có vai trò chủ chốt trong kiểm soát hành chính công. Nghị viện Mỹ đã thông qua luật cho phép các cơ quan và các chương trình tự đưa ra các quy định hướng dẫn. Các quy định này được đăng trên website để lấy ý kiến (Bộ pháp điển các quy định liên bang). Người dân có thể đọc hoặc phản hồi về các quy định đang được xem xét, đang lấy ý kiến công chúng hoặc đã được ban hành trên Federal Register (một dạng công báo liên bang xuất bản mỗi ngày làm việc - www.regulations.gov). Bên cạnh đó, các thông tin về chương trình, báo cáo thường niên, luật, mô tả chương trình, các kế hoạch chiến lược phải được đăng trên website của cơ quan đó để người dân đọc và phản hồi. Mỹ là nước có chính sách nghiêm nhất về dữ liệu mở, cho phép người dân được tiếp cận các thông tin chính phủ nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào. 2.2. Kiểm soát hành chính công ở Cộng hòa Liên Bang Đức Giống như Mỹ, Cộng hòa Liên bang Đức cũng lấy học thuyết “tam quyền phân lập” làm căn bản để tổ chức quyền lực nhà nước, tuy có những cách thức áp dụng thực tế khác nhau . Tổng thống liên bang đại diện cho liên bang về mặt công pháp quốc tế, do Hội nghị liên bang bầu ra theo nhiệm kỳ 5 năm và theo đa số tuyệt đối. Theo đề nghị của Tổng thống liên bang, Nghị viện bầu Thủ tướng liên bang theo nguyên tắc đa số. Thủ tướng liên bang quyết định về đường lối chính trị. Thủ tướng liên bang chỉ có thể bị bãi chức thông qua “biểu quyết bất tín nhiệm có tính xây dựng”, nghĩa là khi mà Nghị viện cũng đồng thời bầu luôn ra một Thủ tướng mới theo nguyên tắc đa số. Như vậy, cử tri là đối tượng đầu tiên, trực tiếp tạo dựng nên nhà nước thông qua các chế định về bầu cử nên họ là đối tượng cần tranh thủ của các đảng phái chính trị ở các nước có mô hình đa đảng như Cộng hòa liên bang Đức. Với các nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước như đã đề cập, Cộng hòa liên bang Đức quản lý xã hội bằng pháp luật với đặc trưng là công khai và dân chủ. Đặc điểm này giúp cho cử tri – công dân có thể giám sát, phê bình, chỉ trích nhà nước một cách công khai dân chủ thậm chí có thể phản kháng (như biểu tình phản đối hoặc gây ra một số vụ xung đột nhỏ). Pháp luật Cộng hòa liên bang Đức quy định những quyền tự do của công dân trong đó có những quyền giám sát và phản biện đối với nhà nước như quyền bầu cử và bãi nhiệm đại biểu dân cử, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền chất vấn đại biểu dân cử, quyền được trưng cầu ý kiến,… Trong các quyền trên, đặc biệt phải kể đến quyền được trưng cầu ý kiến. Hiến pháp Đức quy định trước khi Thủ tướng hay Nghị viện bỏ phiếu thông qua một số vấn đề nhất định hoặc đã thông qua nhưng trước khi vấn đề đó có hiệu lực thì phải có ý kiến biểu quyết của cử tri cả nước (hoặc vùng lãnh thổ đối với quyết định hội đồng địa phương). 2.3. Kiểm soát hành chính công ở Trung Quốc Trong bối cảnh xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, để đảm bảo quyền kiểm soát của công dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nhà nước nói riêng, Trung Quốc nhấn mạnh “kiên trì và hoàn thiện chế độ Đại hội đại biểu nhân dân, bảo đảm cho Đại hội đại biểu nhân dân và ủy ban thường vụ của nó thực thi chức năng theo luật định, bảo đảm lập pháp và quyết sách thể hiện tốt hơn ý chí của nhân dân” . Chế độ bầu cử là một phần quan trọng bảo đảm về tổ chức cho chế định Đại hội đại biểu nhân dân ở Trung Quốc. Từ năm 1982 tới năm 1986, và đến năm 1995, Trung Quốc đã tiến hành cải cách cũng như hoàn thiện chế độ bầu cử. Qua các lần cải cách bầu cử, phạm vi bầu cử trực tiếp đại biểu vào Đại hội đại biểu nhân dân được mở rộng tới cấp huyện. Đồng thời, việc bầu cử được thực hiện có cạnh tranh và bầu cử có số dư, tức từ hai hay ba ứng viên chọn ra một ứng viên đắc cử. Cần nói thêm rằng, chế định kiểm soát của công dân đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở Trung Quốc là một khái niệm bao gồm nhiều nội dung, ở nhiều lĩnh vực. Trong đó, các chủ thể đại diện cho công dân thực hiện quyền giám sát được đề cao là Đại hội đại biểu nhân dân (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp), Chính Hiệp (giống như Mặt trận Tổ quốc ở Việt Nam),.. Một thành tựu ở Trung Quốc trong việc đảm bảo khả năng kiểm soát của công dân đối hành chính công là đã xây dựng được một hệ thống các văn bản về công khai thông tin hoạt động của Chính phủ, các Bộ ngành, cơ quan hành chính các cấp, trong đó hình mẫu là văn bản “Điều lệ công khai tin tức Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”. Văn bản này được Hội nghị Quốc vụ viện Trung Quốc thông qua ngày 17/01/2007 và có hiệu lực thi hành từ năm 2008 (ở Việt Nam, Luật tiếp cận thông tin chỉ có hiệu lực từ 01/07/2018) với nhiều điều khoản tiến bộ, như: “Vì để đảm bảo cho công dân, pháp nhân và tổ chức khác dựa vào pháp luật để thu được thông tin của chính quyền, nâng cao tính minh bạch trong công tác của chính quyền… mà ban hành Nghị định này” (Điều 1); “Cơ quan hành chính các cấp phải tăng cường tổ chức lãnh đạo công tác công khai thông tin. Văn phòng Chính phủ là cơ quan chủ quản trong phạm vi toàn quốc đối với công tác công khai thông tin, chịu trách nhiệm thúc đẩy, chỉ đạo, điều phối, kiểm tra, giám sát công tác công khai thông tin trên toàn quốc. Văn phòng Ủy ban nhân dân (hoặc phòng chuyên môn khác do ủy ban nhân dân xác định) từ cấp huyện trở lên là cơ quan chủ quản công tác công khai thông tin có trách nhiệm thúc đẩy, chỉ đạo, điều phối, kiểm tra giám sát công tác công khai thông tin ở khu vực hành chính của mình” (Điều 3). Về nội dung công khai thông tin, mỗi cấp hành chính ở Trung Quốc được quy định phạm vi nội dung công khai thông tin khác nhau và được chia làm hai loại: (1) những thông tin công khai chủ động, và (2) những thông tin công khai theo yêu cầu của công dân, tổ chức. Đối với loại thứ nhất, Nghị định của Chính phủ Trung Quốc đã quy định 04 nội dung lớn mà cơ quan hành chính phải chủ động công khai như những vấn đề liên quan đến lợi ích thiết thân của công dân, pháp nhân và tổ chức khác; những nhu cầu mà đa số quần chúng nhân dân cần phải được biết hoặc tham gia; về cơ cấu tổ chức, chức năng, thủ tục làm việc của cơ quan hành chính nhà nước,…(Điều 9). Trên cơ sở quy định chung này mà từng cấp hành chính có quy định cụ thể về nội dung thông tin cần chủ động công khai. Chẳng hạn, ở cấp huyện trở lên phải chủ động công khai cho công dân 11 loại thông tin liên quan đến các văn bản pháp quy, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách, báo cáo quyết toán, căn cứ, tiêu chuẩn, các hạng mục thu phí, các hạng mục mua sắm, các thông tin liên quan đến tình hình thanh tra, kiểm tra chất lượng sản phẩm, thực phẩm, thuốc chữa bệnh,… Ở cấp xã, thị trấn phải chủ động công khai cho công dân thông tin về 08 nhóm nội dung: những chính sách liên quan đến nông thôn; tình hình quản lý và sử dụng các loại vốn; thu chi tài chính; tình hình, kế hoạch sử dụng đất; vấn đề bồi thường việc trưng dụng, trưng thu nhà, đất; vấn đề thuê mướn, bán đấu giá, nhận thầu đất đai; chính sách sinh đẻ có kế hoạch,.. Ngoài những nội dung thông tin mà các cơ quan hành chính nhà nước phải chủ động công khai, Chính phủ Trung Quốc cũng đã ghi nhận quyền của công dân, pháp nhân và tổ chức khác được yêu cầu cơ quan hành chính nhà nước cung cấp thông tin liên quan đến nhu cầu thiết yếu về sản xuất, sinh hoạt, nghiên cứu khoa học,…của công dân, tổ chức đó. Đây cũng là một nội dung khác so với Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn của Việt Nam . Pháp lệnh này đã quy định những nội dung mà chính quyền cấp xã phải công khai cho nhân dân biết nhưng lại chưa đề cập quyền yêu cầu cung cấp thông tin của công dân. 3. Những giá trị có thể tham khảo ở Việt Nam Nghiên cứu về kiểm soát của công dân đối với hoạt động của cơ quan hành pháp, hoạt động của cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở một số quốc gia như Hoa Kỳ, Cộng hòa liên bang Đức, Trung Quốc có thể rút ra những giá trị tham khảo đối với Việt Nam như sau: Một là, các quốc gia được nghiên cứu ở trên đều tồn tại song song hai hệ thống kiểm soát là bên trong và bên ngoài nhà nước, đều tồn tại nhiều chủ thể kiểm soát nhưng mỗi loại hình thể chế, mỗi quốc gia lại có những phương thức thực hiện kiểm soát khác nhau. Chẳng hạn, cơ chế kiểm soát từ bên trong ở Hoa Kỳ và Cộng hòa liên bang Đức là kiểm soát của các đảng chính trị đối lập đều tham gia vào tổ chức bộ máy nhà nước, thực hiện cơ chế kiềm chế - đối trọng và cân bằng quyền lực. Ở Trung Quốc, mô hình tổ chức quyền lực chính trị là nhiều đảng nhưng chỉ có một đảng cầm quyền (Đảng Cộng sản), các đảng khác thừa nhận vai trò của đảng cầm quyền – thực chất chỉ là những tổ chức đoàn thể nhân dân – vì không có mục tiêu cầm quyền. Đối với thể chế này thì trách nhiệm kiểm soát thuộc về các tổ chức chính – xã hội như Chính Hiệp, các đảng, các đoàn thể nhân dân khác. Những thiết chế này một mặt là một bộ phận của quyền lực chính trị, thực hiện các chức năng chính trị - xã hội của nhà nước, mặt khác lại là những đại diện cho đông đảo các lực lượng quần chúng nhân dân. Tuy cách diễn đạt bằng ngôn ngữ pháp lý khác nhau nhưng về bản chất có thể hiểu những tổ chức đại diện cho quần chúng nhân dân tham gia vào công việc của nhà nước trong đó có hoạt động kiểm soát (như tập hợp ý kiến cử tri, phản ánh dư luận xã hội, góp ý kiến xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật). Hai là, có thể thấy tính cạnh tranh chính trị ở các quốc gia có nhiều đảng phái chính trị cao hơn, và do vậy, không gian cho hoạt động kiểm soát của công dân được rộng hơn. Chính phủ ở các quốc gia này chịu áp lực và sự kiểm soát của các đối thủ chính trị và của công dân nên buộc phải có trách nhiệm cao trong việc thực thi chức trách, nếu không sẽ dễ bị mất quyền lãnh đạo. Tuy vậy, cũng cần nhìn nhận rằng những áp lực này đôi khi lại làm cản trở những hoạt động của Chính phủ, làm phức tạp hơn thêm trong quá trình thực hiện các chính sách công và dẫn đến hình thành sự thỏa hiệp trong các hoạt động quản lý hành chính ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân. Ba là, bài học về công khai, minh bạch thông tin với sự tham gia của truyền thông, báo chí, nhất là trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghệ thông tin như ngày nay. Báo chí cung cấp thông tin để xã hội kiểm soát, giám sát được hoạt động của cơ quan nhà nước và các chính trị gia, cán bộ công chức. Với ý nghĩa đó, báo chí là một “thế lực” mà các cơ quan nhà nước không thể bỏ qua, được coi là “quyền lực thứ Tư” bên cạnh các quyền lập pháp – hành pháp – tư pháp. Nếu như Trung Quốc tăng cường quản lý nhà nước đối với báo chí, coi báo chí trước hết phải là công cụ phục vụ chính quyền bởi chính quyền là do dân chúng bầu ra và phục vụ công chúng thì ở Hoa Kỳ hay Cộng hòa liên bang Đức, báo chí lại do khu vực tư nhân kiểm soát và độc lập với chính phủ, tuy đôi khi bị chi phối bởi các đảng chính trị và đại diện cho các nhóm lợi ích. Ở phương Tây, “điều tốt đẹp nhất mà báo chí có thể đem lại cho nền dân chủ là buộc quyền lực phải có trách nhiệm” và báo chí có vai trò lớn trong việc “điều hành dân chủ” . 4. Một số vấn đề đặt ra đối với Dự thảo Luật Hành chính công - Vấn đề hệ trọng đầu tiên, cần xác định chính xác, đầy đủ “hành chính công” là gì? Theo Dự thảo Luật Hành chính công thì “Hành chính công là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền sử dụng nguồn lực công để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ hành chính công theo quy định của pháp luật ”. Việc “giải mã” thuật ngữ này có ảnh hưởng rất lớn đến “đối tượng điều chỉnh” của Luật. Giới hạn của “hành chính công” chỉ bao gồm hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan hành chính hay mở rộng đến “hoạt động hành chính” của Quốc hội, Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân? Hay mở rộng, không chỉ “hoạt động hành chính” của lập pháp, hành pháp, tư pháp mà còn của “các tổ chức, cá nhân được trao quyền hành pháp” – ví dụ quản lý hành chính của tổ chức Công đoàn? - Xác định kiểm soát hành chính công là gì? Ai kiểm soát? Kiểm soát ai? Kiểm soát cái gì? Kiểm soát bằng cách nào?. Theo Dự thảo, “Kiểm soát hành chính công là việc kiểm soát hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền sử dụng nguồn lực công để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ hành chính công thông qua hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát của cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền; giám sát của tổ chức và công dân theo quy định của pháp luật ”. Chủ thể kiểm soát hành chính công rất đa dạng, nên dùng từ “có thẩm quyền” e là đã giới hạn rất nhiều, nhất là kiểm soát của công dân, xã hội, báo chí. Việc liệt kê các phương thức như trên làm cho nội dung này có thể “vừa thừa, vừa thiếu”. - Xác định đối tượng điều chỉnh cho nhóm quy phạm về kiểm soát hành chính công từ phía công dân, xã hội, báo chí của Dự thảo. Nhất là tránh việc quy phạm những nội dung đã được quy định trong các văn bản quy phạm. - Vấn đề công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình vấn là vấn đề cốt lõi trong kiểm soát hành chính công. Đây không phải là vấn đề mới, nhưng dù đã có nhiều quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đã có nhiều hoạt động được triển khai nhưng công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, ranh giới giữa “mật” và không mật vẫn là dấu hỏi lớn, nhất là từ thương vụ Mobifone mua AVG gây thiệt hại nặng nề, có trách nhiệm của nhiều bộ ngành và cơ quan nhà nước . Vì vậy, nếu vấn đề công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, bảo mật trong quản lý hành chính được giải quyết thấu đáo sẽ là dấu ấn quan trọng của Dự án Luật Hành chính công. Tài liệu tham khảo 1. Ban soạn thảo Luật Hành chính công, Dự thảo Luật Hành chính công (2017); 2. Giang Trạch Dân (2002), “Xây dựng toàn diện xã hội khá giả, mở ra cục diện mới của sự nghiệp XHCN đặc sắc Trung Quốc” (Báo cáo chính trị Đại hội XVI), NXB Nhân dân, Bắc Kinh; 3. Đoàn Trọng Truyến (Chủ biên): Hành chính học đại cương, Nxb Chính trị Quốc gia, 1997; 4. Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn được Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 20/04/2007; 5. S.Waisbosod (2001) “Tại sao nền dân chủ cần báo chí điều tra, chuyên đề Báo chí và Đạo đức”, Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ 6. “Hàng nghìn người giám sát gian lận bầu cử Tổng thống Mỹ”, https://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/bau-cu-tong-thong-my-2016/hang-nghin-nguoi-giam-sat-gian-lan-bau-cu-tong-thong-my-3496152.html 7. http://www.thanhtra.gov.vn/ct/news/Lists/KetLuanThanhTra/View_Detail.aspx?ItemId=100 8. “Bill of Rights passes Congress”, http://www.history.com/this-day-in-history/bill-of-rights-passes-congress
 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIII:

Tổng số đại biểu là 497 người;
- 33.4đại biểu ở các cơ quan trung ương;
- 65.8% đại biểu ở địa phương;
- 15.6% đại biểu là người dân tộc thiểu số;
- 24.4% đại biểu là phụ nữ;
- 8.4% đại biểu là người ngoài Đảng;
- 12.2% đại biểu là trẻ tuổi (dưới 40);
- 33.2% là đại biểu Quốc hội khóa XII tái cử;
- 98,2% đại biểu có trình độ đại học và trên đại học;
- 7% đại biểu thuộc khối doanh nghiệp;
- 33% đại biểu hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội;
- 0.8% đại biểu là người tự ứng cử.

WEBLINK