Chính sách hỗ trợ thương mại của Hàn Quốc
Cập nhật : 10:03 - 02/01/2018

 

 

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã gây ra sự sụt giảm mạnh trong thương mại của Hàn Quốc, đặc biệt là xuất khẩu, nguồn tăng trưởng chính của Hàn Quốc. Kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc năm 2008 là 422 tỉ USD, đến năm 2009, chỉ còn 363,5 tỉ USD, giảm 14%, năm 2013, tốc độ tăng trưởng chỉ còn 2.1%[1]. Những năm gần đây, kinh tế Hàn Quốc đã có sự khởi sắc. Sự phục hồi này là kết quả của sự hồi sinh của các chính sách kinh tế vĩ mô về tài chính thương mại trên toàn thế giới và các gói hỗ trợ kích thích kinh tế lớn nhất về tài chính giữa các nước OECD. Hàn Quốc ít sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại mà chú trọng mở cửa thị trường mạnh hơn nữa cho thương mại quốc tế thông qua đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương lớn.

Mục tiêu chính sách thương mại của Hàn Quốc là xây dựng một nền kinh tế tự do và mở dựa trên nguyên tắc thị trường. Để đối phó với những thách thức toàn cầu hóa và cạnh tranh không giới hạn, Hàn Quốc theo đuổi chính sách kinh tế và thương mại tập trung vào việc tạo ra các động cơ tăng trưởng mới, cải thiện khả năng tiếp cận thị trường trọng điểm và hợp tác kinh tế chặt chẽ với các đối tác thương mại lớn. Một số chính sách hỗ trợ thương mại được Hàn Quốc áp dụng, đó là:

·                  Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và giảm can thiệp của Nhà nước

Tháng 12/2010, Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung Bak đã thành lập Ủy ban chia sẻ tăng trưởng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ủy ban này đã chọn ra 82 mặt hàng trong số 234 mặt hàng kinh doanh phù hợp với quá trình sản xuất của doanh nghiệp nhỏ[2]. Theo đó, các công ty lớn hoặc sẽ bị ngăn cản xâm nhập, mở rộng hoạt động trên thị trường các mặt hàng đó hoặc buộc phải từ bỏ sản xuất các mặt hàng đó trong vòng 3 năm. Ủy ban này đánh giá những nỗ lực của các tập đoàn lớn trong việc thúc đẩy chia sẻ tăng trưởng, bằng cách đánh giá việc các tập đoàn lớn bám sát những thông lệ về công bằng thương mại và cung cấp hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ, thông qua đó có thể giúp thu hẹp khoảng cách thu nhập.

Bên cạnh đó,  Ủy ban Thương mại công bằng Hàn Quốc cũng cung cấp các ưu đãi để khuyến khích các tập đoàn lớn cung cấp hỗ trợ tài chính và chuyển giao công nghệ cho các nhà thầu phụ của họ. Việc chuyển giao công nghệ cho các nhà thầu phụ sẽ giúp khắc phục tình trạng mất cân bằng do sự độc quyền  của các tập đoàn bởi các tập đoàn lớn luôn muốn giữ quyền sở hữu trí tuệ của họ cũng như muốn hưởng trọn những lợi ích xã hội do những công nghệ mới đó mang lại. Một số biện pháp để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm trợ cấp xuất khẩu, giảm thuế, các khoản vay lãi suất thấp hỗ trợ quá trình sản xuất và thương mại các sản phẩm nông nghiệp…

Tại Hàn Quốc, sự tham gia của Nhà nước trong nền kinh tế vẫn tồn tại bất chấp những nỗ lực tư nhân hóa của Chính phủ. Đặc biệt, sự tham gia của Nhà nước trong ngành nông nghiệp còn khá lớn, mới chỉ có 8 công ty được tư nhân hóa dù Chính phủ quyết tâm tiến hành thoái vốn[3].

Hàn Quốc cũng tiến hành nhiều nỗ lực để loại bỏ các quy định chống độc quyền bằng cách đưa ra những quy định đặc biệt dành riêng cho các tập đoàn lớn, mục đích chủ yếu là nhằm vào các tập đoàn do gia đình kiểm soát, đồng thời nghiêm cấm việc sở hữu chéo cổ phần giữa các công ty con thuộc công ty mẹ.

·                  Tự do hóa thương mại từng bước trong ngành nông nghiệp

Mặc dù tự do hóa định hướng FTA (Hiệp định Thương mại tự do), Chính phủ Hàn Quốc vẫn duy trì các biện pháp bảo vệ các nhà sản xuất trong nước, đặc biệt là nông dân, từ cạnh tranh nước ngoài.

Ngành nông nghiệp vẫn còn là một ngành nhạy cảm và phụ thuộc vào chính sách tự cung tự cấp nhằm giải quyết vấn đề an ninh lương thực, đặc biệt là gạo và các vấn đề phi thương mại thông qua việc hiện đại hóa các cơ sở sản xuất nông nghiệp. Tỷ lệ trung bình thực phẩm tự cung tự cấp tăng từ 51,8% năm 2008 lên 54,9% trong năm 2010, trong đó tỷ lệ tự cung cấp gạo, lương thực chủ yếu của người Hàn Quốc đã tăng từ 94,4% lên 104,6%[4].

Năm 2009, một khuôn khổ cải cách chính sách nông nghiệp đã được đề xuất nhằm hiện đại hóa nông nghiệp Hàn Quốc, theo đó các nhà hoạch định chính sách và các bên liên quan nhất trí về định hướng thị trường hơn nữa cũng như thúc đẩy hoạt động thân thiện với môi trường đối với ngành nông nghiệp[5].

Những chính sách gần đây của Hàn Quốc tập trung vào mối liên hệ giữa nông nghiệp sơ cấp và sự phát triển của ngành thực phẩm nông nghiệp, hỗ trợ cho đầu tư tư nhân vào lĩnh vực nông nghiệp, bảo vệ thu nhập cho hộ nông dân do thiên tai và hỗ trợ các hoạt động nông nghiệp sử dụng ít phân bón. Các chính sách hỗ trợ khác bao gồm việc mở rộng một hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tăng việc thanh toán trực tiếp cho nông nghiệp thân thiện với môi trường và phát triển nông thôn. Hiện tại, Hàn Quốc đang thay đổi chính sách FTA của mình với nhiều chiến lược thương mại, trong đó Hàn Quốc đã chuyển đổi từ bảo hộ nông nghiệp mạnh mẽ sang chỉ tập trung bảo hộ gạo.

·                  Tự do hóa thương mại sâu hơn trong ngành dịch vụ và công nghiệp

Tại Hàn Quốc, không có hạn chế nào đối với người nước ngoài muốn hoạt động kinh doanh tại quốc gia này, ngoại trừ một số ngành đã được quy định rõ như dược phẩm, y tế, thực phẩm chức năng, tác phẩm nghệ thuật, các dịch vụ phân phối tại thị trường bán buôn đối với sản phẩm nông nghiệp, ngư nghiệp và chăn nuôi.

Hàn Quốc quan tâm đến tự do hóa sâu hơn trong 05 dịch vụ cơ sở hạ tầng quan trọng là vận tải biển, xây dựng, viễn thông, phân phối và dịch vụ tài chính. Trong các cuộc đàm phán song phương và đa phương về các ngành dịch vụ, mục tiêu chính của Hàn Quốc trong năm lĩnh vực dịch vụ là giảm ưu tiên cho các ngành dịch vụ và phương thức cung cấp; giảm các rào cản thương mại; giảm các cuộc kiểm tra nhu cầu kinh tế và thành lập một bộ tiêu chí rõ ràng đối với nhu cầu kinh tế.

Có thể nói, Hàn Quốc đã điều chỉnh chính sách thương mại theo định hướng FTA, thuận lợi hóa thương mại theo nhiều hướng khác nhau trong đó có việc giảm thiểu sự can thiệp  của Nhà nước, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và tự do hóa thương mại sâu rộng hơn các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ.



[1] Korea Internatioanl Trade Association, 2014

[2] Korea Fair Trade Commission, Annual Report 2011

[3]  WTO, Trade policy review, Report by South Korea, 2013

[4] Ministry of Agriculture, Food and Rural Affairs,  online information on http://english.mafra.go.kr/main.jsp

[5] Organization for Economic Côperation and Development, 2010a

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK