Bảo vệ người tố cáo qua các Hiến pháp Việt Nam
Cập nhật : 9:55 - 29/06/2017

 

 

Tố cáo là quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong hầu hết các bản Hiến pháp Việt Nam. Đây được coi là công cụ pháp lý quan trọng để công dân đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, tiêu cực. Tố cáo cũng thể hiện quyền của công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội.

Cho đến nay, Nhà nước ta đã ban hành năm bản Hiến pháp trong các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013. Trong bản Hiến pháp đầu tiên (1946), chưa có quy định nào về tố cáo. Tuy nhiên, kể từ Hiến pháp năm 1959, vấn đề tố cáo và bảo vệ người tố cáo được đề cập cụ thể hơn.

Điều 29, Hiến pháp năm 1959 quy định: “Công dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào về hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên cơ quan nhà nước. Những việc khiếu nại, tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng. Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được bồi thường”. So với Hiến pháp 1946, việc Hiến pháp 1959 đã quy định và thừa nhận quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được xem là một bước phát triển quan trọng về quyền công dân. Khái niệm “tố cáo” cũng chính thức được sử dụng với tư cách là một thuật ngữ pháp lý tại Việt Nam.

Hiến pháp 1980 tiếp tục củng cố quyền khiếu nại, tố cáo của công dân tại Điều 73: “Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức, đơn vị đó. Các khiếu nại, tố cáo phải được xem xét và giải quyết kịp thời. Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo”. Như vậy, lần đầu tiên, Hiến pháp quy định nghiêm cấm trả thù người tố cáo và người tố cáo được Hiến pháp bảo vệ.

Quy định về tố cáo tiếp tục được Hiến pháp năm 1992 hoàn thiện và phát triển tại Điều 74: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định. Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”. Như vậy, Hiến pháp 1992 không chỉ tuyên bố về quyền tố cáo của công dân mà còn xác lập cơ sở pháp lý bảo đảm quyền cơ bản của công dân.

Quy định về tố cáo được kế thừa và củng cố trong Điều 30, Hiến pháp 2013: “1. Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật. 3. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác. So với Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013 đã mở rộng phạm vi chủ thể của quyền tố cáo từ “công dân” sang “mọi người”, theo đó bất kỳ ai thực hiện tố cáo theo đúng pháp luật Việt Nam đều được bảo vệ. Ngoài ra việc bồi thường cho người bị thiệt hại do tố cáo được quy định cụ thể và đầy đủ hơn, không chỉ là bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự như Hiến pháp 1992, mà còn bao gồm bồi thường thiệt hại về tinh thần.

Bên cạnh những quy định cụ thể nêu trên, Hiến pháp 1992, 2013 còn có những quy định gián tiếp về bảo vệ người tố cáo, thông qua việc xác định trách nhiệm của một số chủ thể trong việc bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân. Ví dụ, về vai trò của Nhà nước Việt Nam, Điều 9 Hiến pháp năm 1992 và 2013 quy định:”… Mặt trận Tổ quốc Việt Nam… cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân,…”; về vai trò của tổ chức Công đoàn, Điều 10, Hiến pháp 1992 và 2013 quy định: “Công đoàn… cùng với các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác;…”. Hiến pháp 1992 và 2013 cũng quy định nền tảng gắn bó với quyền tố cáo của công dân. Điều 11 Hiến pháp năm 1992, Điều 46 Hiến pháp 2013 quy định công dân có quyền và nghĩa vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội…

Như vậy, các bản Hiến pháp từ 1959 đến 2013 của nước ta đều khẳng định vai trò, trách nhiệm của xã hội và của công dân trong phòng, chống tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật; cũng như xác định hành vi tố cáo những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân là quyền cơ bản của công dân. Các bản Hiến pháp cũng đều xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết tố cáo của công dân; đồng thời quy định quyền của người tố cáo được pháp luật bảo vệ và được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Bên cạnh việc nghiêm cấm trả thù người khiếu nại, tố cáo, các bản Hiến pháp của nước ta cũng nghiêm cấm việc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, làm hại người khác. Những quy định đó đã xác lập một nền tảng hiến định cho việc xây dựng cơ chế pháp lý về tố cáo và bảo vệ người tố cáo ở nước ta.

 

 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK