Hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ người tố cáo
Cập nhật : 9:53 - 29/06/2017

 

 

Tố cáo là quyền cơ bản của công dân, có ý nghĩa quan trọng trong quản lý nhà nước, ổn định tình hình kinh tế - xã hội và đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật. Để giúp công dân thực hiện tốt quyền tố cáo của mình, nhất là tố cáo hành vi tham nhũng, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản, chính sách, pháp luật về bảo vệ người tố cáo. Các quy định hiện hành về bảo vệ người tố cáo được quy định trong Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo năm 2011, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Phòng, chống tham nhũng, Nghị định số 76/2012/NĐ-CP của Chính phủ và một số văn bản hướng dẫn thi hành khác… Tuy nhiên, pháp luật về bảo vệ người tố cáo vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập như quan niệm, quy định về người tố cáo và bảo vệ người tố cáo còn mơ hồ và chưa thống nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật; hầu hết các quy định về bảo vệ người tố cáo mới chỉ mang tính nguyên tắc, chưa quy định về trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết yêu cầu bảo vệ của người tố giác; bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo còn kém… Do đó để xây dựng được một cơ chế bảo vệ người tố cáo hiệu quả cần có sự đổi mới, hoàn thiện khung pháp lý cũng như trong tư duy về tố cáo và bảo vệ người tố cáo.

Thứ nhất, mở rộng, đa dạng hóa hình thức tố cáo, tố giác và hình thức tiếp nhận tố cáo, tố giác. Các quy định pháp luật về hình thức tố cáo của công dân, tổ chức hiện nay chưa thống nhất và chưa phù hợp với thực tiễn. Với điều kiện hạ tầng, công nghệ thông tin hiện đại, nhằm tạo thuận lợi cho công dân thực hiện quyền tố cáo, báo tin, pháp luật cần mở rộng quy định các hình thức tố cáo, tố giác linh hoạt và đa dạng, đồng thời tăng cường trách nhiệm của cơ quan và cán bộ, công chức nhà nước trong việc tiếp nhận, thụ lý và xử lý hiệu quả tố cáo, tố giác của công dân.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và quản lý nhà nước trên các lĩnh vực như một yếu tố hạn chế khiếu nại, tố cáo. Vướng mắc trong giải quyết khiếu nại, tố cáo xuất phát từ các nguyên nhân khác nhau. Chính sai phạm của cán bộ, công chức là lý do để phát sinh khiếu nại, tố cáo, kể cả khiếu nại, tố cáo đông người, kéo dài và có tính lan tỏa, phức tạp. Trong khi đó, việc đánh giá cán bộ, công chức còn hình thức; tỷ lệ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cao. Quy định của Luật Cán bộ, công chức về việc giải quyết thôi việc đối với công chức hai năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ chưa được thực hiện. Vì vậy, cần có những quy định mạnh mẽ, cụ thể hơn nữa để nâng cao chất lượng của đội ngũ quản lý, cán bộ Nhà nước, đặc biệt là đội ngũ cán bộ liên quan đến công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo

Thứ ba, đổi mới căn bản, toàn diện quy trình tiếp nhận, xác định, giải quyết tố cáo và xử lý người bị tố cáo theo hướng bảo mật tuyệt đối danh tính người tố cáo và nội dung tố cáo. Hiện nay, quy trình giải quyết tố cáo có nhiều công đoạn khác nhau, với sự tham gia của nhiều cơ quan, cá nhân trong tham mưu, giải quyết dẫn đến việc không thể đảm bảo bí mật về danh tính người tố cáo. Hơn nữa trên thực tế, người có trách nhiệm giải quyết tố cáo thì không trực tiếp tham gia quá trình tiếp nhận, thẩm tra, xác minh nội dung tố cáo. Người trực tiếp thẩm tra, xác minh nội dung tố cáo thì không có quyền kết luận nội dung tố cáo dẫn đến chất lượng giải quyết tố cáo hạn chế và ảnh hưởng đến sự an toàn của người tố cáo. Do đó các văn bản pháp luật có liên quan cần hoàn thiện theo hướng thu hẹp đầu mối cơ quan tiếp nhận thông tin tố cáo, tố giác, hạn chế người tiếp cận trực tiếp thông tin cá nhân của người tố cáo.

Thứ tư, cần sửa đổi quy định tại khoản 2, Điều 51 Luật Tố cáo năm 2011 về việc yêu cầu người tố giác gửi văn bản yêu cầu bảo vệ đến người giải quyết tố cáo. Cần đảm bảo nguyên tắc cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo trong mọi trường hợp, ngay cả khi người tố cáo không có yêu cầu bảo vệ.

Thứ năm, quy định cụ thể các biện pháp bảo vệ người tố cáo mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng cũng như trình tự, thủ tục áp dụng trong từng giai đoạn khác nhau của quá trình tiếp nhận, thụ lý, giải quyết, xử lý đơn thư tố giác. Hiện nay, các quy định về các biện pháp bảo vệ người tố cáo cũng như trình tự, thủ tục yêu cầu và áp dụng chưa có sự thống nhất giữa Luật Tố cáo 2011 và Nghị đinh 76/2012/NĐ-CP. Hai văn bản này cũng chưa đưa ra nguyên tắc xác định thời điểm mà người tố cáo bắt đầu được bảo vệ, chưa phân tách được các giai đoạn cũng như cấp độ bảo vệ cần thiết cho người tố cáo.

Thứ sáu, quy định rõ về chế tài hành chính, dân sự đối với các chủ thể vi phạm pháp luật về tố cáo và bảo vệ người tố cáo. Trong đó, nghiên cứu xây dựng bộ công cụ pháp lý toàn diện về xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực tố cáo, khiếu nại, thanh tra, tiếp công dân và phòng chống tham nhũng.

Thứ bảy, nghiên cứu, bổ sung  các quy định về hợp tác quốc tế trong bảo vệ người tố cáo và phát huy vai trò của khu vực tư trong công tác bảo vệ người tố cáo.

Ngoài ra, nghiên cứu quy định việc thừa nhận một dạng tố cáo, tin báo nặc danh. Trong thực tế, nhiều tố cáo nặc danh cung cấp những thông tin hữu ích về tội phạm và vi phạm pháp luật, nhưng cũng có nhiều trường hợp lợi dụng tố cáo nặc danh để gây rối trật tự, an ninh và vu khống người khác. Do đó, một mặt Nhà nước cần nghiên cứu quy định pháp luật về việc tiếp nhận, xử lý một số dạng tố cáo, tin báo nạc danh có nội dung rõ ràng, cung cấp được bằng chứng, thông tin xác thực; mặt khác cần phải tăng cường các biện pháp ngăn chặn, trừng phạt những hành vi lợi dụng tố cáo để tung tin bịa đặt, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội hoặc vu khống, ảnh hưởng đến danh dự của người khác.

Tài liệu tham khảo

1.             ThS. Cao Vũ Minh (2012), Để khiếu nại xứng tầm là một quyền hiến định, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (10), tr. 55

2.             ThS. Tạ Thu Thủy, Bảo vệ người tố giác- Quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam, Viện Khoa học Thanh tra, 2013

3.             Nguyễn Quốc Văn- Vũ Công Giao, Bảo vệ người tố cáo trong pháp luật Việt nam

4.             http://khpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=7

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK