Tăng cường hợp tác giữa nhà nước và xã hội trong phòng, chống tham nhũng
Cập nhật : 9:51 - 29/06/2017

 

Tham nhũng là mối đe dọa đến sự tồn tại của chế độ chính trị và sự phát triển của đất nước, do đó, phòng chống tham nhũng là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Năm 2003, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ký Công ước Liên Hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC). Công ước chính thức có hiệu lực tại Việt Nam vào tháng 9/2009. Điều 13 của UNCAC quy định chi tiết, cụ thể về sự tham gia của xã hội trong phòng, chống tham nhũng, trong đó nhấn mạnh đến trách nhiệm của chính phủ các quốc gia thành viên trong việc thúc đẩy và đảm bảo sự tham gia của các tổ chức và cá nhân ngoài khu vực Nhà nước. Trong tuyên bố về việc thực thi Công ước gửi Liên Hợp quốc, Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: Việt Nam không áp dụng trực tiếp quy định của UNCAC mà sẽ thực hiện các quy định này tuân theo Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam; đồng thời dựa trên cơ sở các thỏa thuận hợp tác song phương hoặc đa phương với các nước khác[1]. Do vậy, Việt Nam đã tiến hành nội luật hóa các quy định của UNCAC và có nghĩa vụ tổ chức thực thi các quy định đã nội luật hóa. Điều 13 của UNCAC đã được Việt Nam cụ thể hóa trong các quy định của Luật phòng, chống tham nhũng 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007 và 2012) và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Chương VI của Luật Phòng, chống tham nhũng (Luật PCTN) đưa ra các quy định vềVai trò và trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng”. Đặc biệt, Nghị định số 47/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 03 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật PCTN về vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng. Cùng với việc ban hành nhiều văn bản, chủ trương, chính sách, pháp luật, Đảng và Nhà nước ta cũng hết sức chú trọng vào việc huy động sự tham gia của người dân, các tổ chức xã hội vào hoạt động phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, trong những năm qua, hệ thống chính sách, pháp luật của nước ta về phòng, chống tham nhũng nói chung, về phát huy vai trò của xã hội trong phòng, chống tham nhũng nói riêng còn nhiều bất cập, hạn chế. Việc này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng cũng như về phát huy vai trò của xã hội trong phòng, chống tham nhũng.

Để nâng cao hơn nữa vai trò của xã hội trong phòng chống tham nhũng, đòi hỏi trách nhiệm, sự nỗ lực và tích cực từ cả hai phía, các cơ quan nhà nước và xã hội. Các cơ quan nhà nước cần nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của xã hội trong công tác này; những tác động, hiệu quả to lớn của việc huy động đông đảo các tổ chức chính trị- xã hội, các tổ chức xã hội- nghề nghiệp và đông đảo quần chúng nhân dân tham gia giám sát, phát hiện và tố cáo các hành vi tham nhũng trong bộ máy công quyền. Từ đó có những đảm bảo pháp lý cho hoạt động này của xã hội, tạo các điều kiện để khuyến khích, động viên sự tham gia của xã hội cũng như quy định những trách nhiệm công dân của các tổ chức, các thành viên trong việc tham gia. Bên cạnh đó, bản thân mỗi tổ chức xã hội và người dân cũng cần thấy rõ trách nhiệm, vai trò của mình trong công tác phòng, chống tham nhũng, thực hiện tự giác, có trách nhiệm với quyền và nghĩa vụ của mình.

Phát huy vai trò của xã hội trong công tác đấu tranh chống tham nhũng đòi hỏi tích cực, chủ động từ phía nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện thể chế và thực hiện phối hợp có hiệu quả với các tổ chức xã hội, đoàn thể và người dân. Đây là một nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan nhà nước, nhằm đưa ra những khuôn khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội và người dân. Vai trò, vị trí của các tổ chức xã hội trong công tác phòng chống tham nhũng phụ thuộc rất lớn vào các quy định trong chính sách, pháp luật. Các quy định đầy đủ và hoàn thiện là cơ sở quan trọng cho việc thực hiện tốt vai trò của các tổ chức xã hội trong thực tiễn. Trong quá trình xây dựng và ban hành thể chế về vấn đề này, vai trò của xã hội đã được xác lập, trong việc tham gia xây dựng, thực hiện góp ý và phản biện. Những mong muốn, yêu cầu về sự tham gia của xã hội vào công tác phòng, chống tham nhũng được thể hiện từ những định hướng chính sách, pháp luật, do đó, các tổ chức xã hội có thể tham gia ngay từ đầu trong quá trình này.

Phát huy vai trò của xã hội trong phòng, chống tham nhũng cũng đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cần tạo những điều kiện để các tổ chức xã hội nâng cao nhận thức về tác hại của tham nhũng, chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Đây chính là tiền đề cơ bản để các tổ chức xã hội hiểu rõ và thực hiện có hiệu quả những biện pháp phòng, chống tham nhũng.. Do đó, cần có những chương trình, kế hoạch giới thiệu về chính sách, pháp luật và tác hại của tham nhũng cho toàn xã hội, có những chương trình tập huấn phù hợp với từng đối tượng (công chức, doanh nghiệp, sinh viên, người dân..). Bên cạnh đó, cần hỗ trợ các điều kiện cần thiết để các tổ chức xã hội tự nâng cao nhận thức trong hệ thống của mình và chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng trong bản thân tổ chức.

Hợp tác giữa nhà nước với các tổ chức xã hội và người dân là đòi hỏi khách quan trong cuộc chiến chống tham nhũng. Trong đó, nhà nước cần đặc biệt quan tâm đến việc đề cao vai trò theo dõi, đo lường, đánh giá độc lập của các thiết chế xã hội và người dân về tình trạng tham nhũng và công tác phòng chống tham nhũng; tạo mọi điều kiện để các tổ chức xã hội và người dân giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, chủ động phát hiện và tố giác, báo cho các cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý các hành vi tham nhũng thông qua việc hoàn thiện và đảm bảo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân. Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước cần tạo điều kiện cho việc hình thành cơ chế giám sát nội bộ, bao gồm cả việc thực hiện các quy tắc ứng xử trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc khu công và tư nhân để phòng ngừa tham nhũng tại chỗ.

 



[1]Thực trạng thực thi, tuân thủ Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị

 http://tks.edu.vn/WebThongTinKhoaHoc/Detail/2?idMenu=120

 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK