CÁC BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH TRONG QUẢN LÝ NGOẠI THƯƠNG
Cập nhật : 10:04 - 12/05/2017

 

Các biện pháp hành chính trong quản lý ngoại thương là nội dung rất quan trọng liên quan đến chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam. Về cơ bản, các biện pháp quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam đã được nghiên cứu, xây dựng trước, trong và sau quá trình Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO cũng như trong quá trình Việt Nam đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại tự do khác (FTA) với nhiều đối tác thương mại khác nhau. Các biện pháp này đã được rà soát sự phù hợp với các cam kết của Việt Nam tại WTO cũng như tại các FTA mà Việt Nam đã tham gia, ký kết. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sử dụng các biện pháp này đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của họ và đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Trên cơ sở đó, Dự thảo Luật Quản lý ngoại thương đã quy định rõ các biện pháp áp dụng trong quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam gồm 7 nhóm bao gồm: cấm, tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu; hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu (bao gồm các biện pháp hạn chế định lượng, chỉ định cửa khẩu, thương nhân); quản lý theo giấy phép, điều kiện; quản lý xuất xứ, lưu hành tự do hàng hóa; quản lý các hoạt động ngoại thương khác; quản lý hoạt động thương mại biên giới; quản lý hoạt động ngoại thương đối với khu hải quan riêng.

Mỗi một nhóm biện pháp có mục tiêu, nguyên tắc áp dụng, trường hợp áp dụng, tính chất của hàng hóa có liên quan, tính thời điểm, sự cấp bách khác nhau từ đó dẫn đến thẩm quyền áp dụng khác nhau.

Cụ thể các biện pháp như sau:

1. Biện pháp cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu (Mục 1)

Đối với biện pháp cấm, Dự thảo Luật quy định nguyên tắc xác định Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, theo đó việc cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu hàng hóa chỉ áp dụng đối với các trường hợp liên quan đến hàng hóa an ninh, quốc phòng, ảnh hưởng thuần phong mỹ tục, môi trường, sức khỏe cộng đồng... Các nguyên tắc này về cơ bản phù hợp với quy định của WTO và chính sách quản lý xuất nhập khẩu hiện nay. Ngoài ra, Dự thảo Luật cũng quy định rõ một số trường hợp ngoại lệ đối với hàng hóa cấm xuất nhập khẩu như vì mục đích phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, y tế, sản xuất dược phẩm, bảo vệ quốc phòng, an ninh; xuất nhập khẩu đối với các khu hải quan riêng.

Một trong những hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành là sự minh bạch chưa cao: việc có quá nhiều văn bản cùng quy định về hoạt động ngoại thương dẫn đến sự thiếu minh bạch, rủi ro cho tổ chức, cá nhân, nhất là trong áp dụng chính sách quản lý hàng hóa (ví dụ như không có danh mục hàng hóa cấm thống nhất mà mỗi Luật và các văn bản hướng dẫn đều có quy định về cấm...). Bên cạnh đó, còn tồn tại nhiều biện pháp quản lý ngoại thương ở hình thức văn bản dưới cấp Nghị định có tính hạn chế, cản trở hoạt động ngoại thương. Do đó, để đáp ứng nguyên tắc công khai, minh bạch của quy định về quản lý ngoại thương, Dự thảo Luật giao Chính phủ quy định chi tiết chỉ 01 Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, nhập khẩu hiện đang được quy định rải rác tại các rất nhiều các văn bản chuyên ngành từ cấp Nghị định đến Thông tư, Quyết định của các Bộ, ngành.

Bên cạnh đó, Dự thảo cũng đã tính đến việc đảm bảo sự linh hoạt trong điều hành khi có quy định về việc tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu có thời hạn. Theo đó, thẩm quyền quyết định hàng hóa thuộc diện tạm ngừng có thời hạn được giao cho Bộ trưởng Bộ Công Thương. Từ khía cạnh mục tiêu, các biện pháp tạm ngừng và biện pháp cấm có mục tiêu hoàn toàn khác nhau. Cụ thể:

- Tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu là biện pháp áp dụng đối với một hoặc một số loại hàng hóa cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định, sau khoảng thời gian này, hàng hóa sẽ được nhập khẩu/xuất khẩu bình thường. Biện pháp quản lý này sẽ được áp dụng phụ thuộc vào thời điểm (hàng hóa liên quan phát sinh tính rủi ro/nhạy cảm trong một vài thời điểm nhất định) chứ không phải là tính chất của hàng hóa (không phải khi nào hàng hóa đó cũng có rủi ro).

- Trong khi đó, biện pháp cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu lại áp dụng với các hàng hóa mà việc lưu thông chúng có thể ảnh hưởng đáng kể tới những lợi ích công cộng, an ninh quốc phòng (quy định tại Điều 9 Dự thảo Luật). Nói cách khác, tính rủi ro gắn với tính chất thường xuyên/bản chất của hàng hóa, và biện pháp cấm áp dụng thường xuyên, liên tục (không phải theo thời điểm/khoảng thời gian nhất định).

Việc quy định các trường hợp áp dụng biện pháp cấm là phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhất là các Điều XX (Ngoại lệ chung) và Điều XXI (Ngoại lệ về an ninh) của GATT[1] 1994.

Về kinh nghiệm quốc tế, Đạo luật một số nước như Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ cũng có quy định về các nội dung này.

Luật Ngoại thương Trung Quốc quy định cấm nhập khẩu hoàn toàn đối với 52 dòng thuế và cấm một phần đối với 528 dòng thuế ở cấp độ mã HS 8 chữ số; Điều 5 Đạo luật Xuất nhập khẩu hàng hóa B.E. 2522 (1979) quy định quyền và nghĩa vụ của Bộ Thương mại liên quan đến hoạt động quản lý ngoại thương là “Quy định cụ thể các hàng hóa bị cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, hàng hóa phải có giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu”.

Các Điều 3, Điều 5, Điều 6 Đạo luật Ngoại thương Ấn Độ năm 1992 và các nội dung sửa đổi tại Đạo luật Ngoại thương sửa đổi của Ấn Độ năm 2010 quy định các biện pháp cấm, hạn chế trong mọi trường hợp hoặc từng trường hợp cụ thể và tùy thuộc vào những ngoại lệ nếu có và có thể được thực hiện bằng việc đăng ký nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng hoá.

Luật Ngoại thương Hàn Quốc quy định hàng hóa có thể bị hạn chế hoặc cấm xuất khẩu, nhập khẩu trong một số trường hợp cụ thể như: chiến tranh, thiên tai; theo quy định của điều ước quốc tế và tập quán quốc tế được thừa nhận chung; đối tác thương mại hạn chế hoặc không tuân thủ quy định về tối huệ quốc và đối xử quốc gia; duy trì hòa bình và an ninh quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế; bảo vệ cuộc sống, sức khỏe, an toàn con người và sức khỏe của động vật, thực vật, bảo vệ môi trường và các nguồn lực trong nước.

2. Biện pháp hạn chế xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu (Mục 2)

Dự thảo Luật quy định chi tiết các biện pháp hạn chế về số lượng hoặc trị giá hàng hóa, thương nhân và cửa khẩu đối với một số loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, bao gồm: thực hiện chế độ hạn ngạch, hạn ngạch thuế quan, cửa khẩu xuất khẩu, nhập khẩu; chỉ định thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu.

- Biện pháp hạn ngạch thuế quan: Đây là biện pháp Việt Nam đã cam kết khi gia nhập WTO theo đó có 04 mặt hàng sẽ được Việt Nam duy trì cơ chế hạn ngạch thuế quan bao gồm trứng gia cầm, muối, đường, lá thuốc lá. Ngoài ra, Việt Nam còn áp dụng trong trường hợp có ưu đãi đặc biệt đối với một số đối tác thương mại đặc biệt (Lào, Campuchia)…

- Biện pháp hạn ngạch: Đây là biện pháp Việt Nam không cam kết áp dụng trong bất cứ trường hợp nào ngoại trừ (i) Áp dụng biện pháp hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VERs)[2]; áp đặt nhưng phải tham vấn về đền bù với đối tác bị thiệt hại.

- Chỉ định thương nhân nhập khẩu, xuất khẩu: Đây là biện pháp Việt Nam đã cam kết khi gia nhập WTO, theo đó biện pháp này chỉ áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp thương mại nhà nước đối với một số mặt hàng cụ thể[3]. Bảng 5 Đoạn 72 Báo cáo Ban Công tác gia nhập WTO của Việt Nam nêu rõ các mặt hàng này bao gồm dầu thô, xằng dầu, máy bay và thiết bị hàng không, băng đĩa hình, báo chí.

            - Biện pháp quản lý cửa khẩu xuất khẩu, nhập khẩu: Đây là biện pháp khi được áp dụng phù hợp với mục đích rõ ràng về chống gian lận thương mại, phù hợp với năng lực kỹ thuật, không phân biệt đối xử là không trái với pháp luật quốc tế, các nguyên tắc của WTO nhất là liên quan đến Điều XI.1 về hạn chế chung về định lượng. Việt Nam đã áp dụng biện pháp này đối với một số mặt hàng như mỹ phẩm, điện thoại di động, ôtô[4]…và hiện chỉ duy trì đối với mặt hàng ôtô[5].

Pháp luật về ngoại thương của các quốc gia như Thái Lan, Hàn Quốc, Mexico cũng có quy định về việc đặt ra các biện pháp phi thuế quan (như hạn ngạch) nhằm hạn chế nhập khẩu để bảo hộ những mặt hàng của ngành sản xuất trong nước trên cơ sở phù hợp với các cam kết quốc tế.

 Cụ thể, Luật Ngoại thương Hàn Quốc quy định: “Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu hạn chế theo quy định của Điều ước quốc tế đã ký kết và các tập quán quốc tế cũng như bảo tồn nguồn tài nguyên, khi xuất khẩu, nhập khẩu phải xin phê duyệt của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, Thương mại và năng lượng. Phê duyệt này không áp dụng đối với xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa khẩn cấp hoặc hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được giản hóa về thủ tục hành chính...Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có thể bị hạn chế về giá cả, tiêu chuẩn, chất lượng theo từng mặt hàng nếu xét thấy cần thiết. Việc hạn chế này được thông báo công khai”.

Luật Ngoại thương Trung Quốc quy định: Năm 2011, hạn ngạch thuế quan được Trung Quốc áp dụng cho 8 loại hàng hóa nhập khẩu thuộc 45 dòng thuế có mã số HS 8 chữ số, bao gồm lúa mạch (6 dòng thuế), ngô (5), gạo (14), đường (6), len (6), áo len (3), bông (2) và phân bón hóa học (3).

Áp dụng thương mại nhà nước: Theo Luật Thương mại (2004) của Trung Quốc, Chính phủ có trách nhiệm quản lý một số loại hàng hóa theo hình thức thương mại nhà nước nhằm đảm bảo ổn định nguồn cung nội địa, bình ổn giá, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Năm 2011, hàng hóa nhập khẩu bởi doanh nghiệp thương mại nhà nước gồm có ngũ cốc (lúa mạch, ngô và gạo), đường, bông, thuốc lá, phân bón, dầu thô và các sản phẩm hóa dầu.

3. Biện pháp quản lý theo giấy phép, điều kiện (Mục 3)

Đối với biện pháp quản lý theo giấy phép, điều kiện, Luật quy định biện pháp này gồm có (1) Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu và (2) Xuất khẩu, nhập khẩu có điều kiện. Dự thảo Luật đã nêu rõ hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa có thể được quản lý theo giấy phép hoặc theo điều kiện, tiêu chuẩn mà không kèm theo yêu cầu về cấp giấy phép.

Hàng hóa phải thực hiện quản lý xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép là các loại hàng hóa phải đáp ứng một số các điều kiện, tiêu chuẩn, quy chuẩn, chất lượng và các loại giấy tờ, hồ sơ khác, được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xác nhận, cho phép bằng văn bản việc đáp ứng đủ điều kiện nhập khẩu, xuất khẩu.

Hoạt động quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa theo điều kiện khi việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa đó có liên quan đến lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, Điều 29 Dự thảo Luật đã nêu rõ nguyên tắc bao gồm đảm bảo công khai, minh bạch, tiết kiệm thời gian, chi phí của cơ quan quản lý nhà nước và của thương nhân và phải tuân thủ trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp giấy phép theo Quy chế của Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 41/2005/QĐ-TTg về ban hành Quy chế cấp phép nhập khẩu hàng hóa.

Như vậy, trên cơ sở các nguyên tắc nói trên, Điều 31 Dự thảo Luật quy định giao Chính phủ quy định rõ Danh mục giấy phép, điều kiện nào gắn với hàng hóa nào, phương thức điều hành (cấp phép, không cần giấy phép…) và các văn bản pháp luật có liên quan quy định các giấy phép, điều kiện đó.

Các biện pháp quản lý theo giấy phép hiện hành đã được Bộ Công Thương rà soát, tổng hợp và đối chiếu với tổng hợp của cơ quan Hải quan; hiện có 126 thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu mà thương nhân, doanh nghiệp phải thực hiện tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, địa phương theo quy định của pháp luật hiện hành. Trong quá trình soạn thảo Dự án Luật, một trong những nguyên tắc, quan điểm chỉ đạo quan trọng là cải cách thủ tục hành chính, duy trì môi trường kinh doanh thuận lợi. Do vậy, Dự thảo Luật và dự thảo các Nghị định quy định chi tiết Luật đã tiếp thu theo hướng hệ thống hóa, hài hòa hóa các thủ tục hành chính có liên quan. Ví dụ : toàn bộ các thủ tục hành chính nói trên không loại trừ doanh nghiệp, thương nhân hoạt động trong khu hải quan riêng. Với quy định tại Mục 8 Chương II Dự thảo, thay vì phải thực hiện toàn bộ 126 thủ tục hành chính nói trên mỗi khi thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, thương nhân, doanh nghiệp hoạt động trong khu hải quan riêng sẽ không phải thực hiện các thủ tục hành chính này trong một số quan hệ xuất nhập khẩu nhất định.

Trên thế giới, hầu hết các nước trên thế giới đều quy định rất nhiều loại giấy phép, điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu. Cụ thể, Mexico duy trì giấy phép nhập khẩu cho các sản phẩm liên quan đến an ninh quốc gia, y tế, và bảo vệ ngành công nghiệp trong nước. Năm 2001, nhập khẩu từ chủ đề nguồn MFN cho phép bao gồm hóa dầu, xe tải, lốp xe, máy móc, quần áo, và các loại máy văn phòng. Đối với xe đã qua sử dụng và máy móc, giấy phép được cấp chỉ khi sản phẩm nước ngoài không có thay thế sản xuất trong nước.

Tại Trung Quốc, thông tin chi tiết về các loại hàng hóa được cấp phép công bố hàng năm bởi Bộ Thương mại Trung Quốc, Tổng cục Hải quan và Tổng cục tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng. Theo đó, năm 2011, Trung Quốc (1) cấp phép không tự động 87 dòng thuế (mã HS 8 chữ số), bao gồm các hóa chất làm suy giảm tầng ozone, một số sản phẩm cơ khí và điện tử đã qua sử dụng và (2) Cấp phép tự động 592 dòng thuế có 8 chữ số (7,1 % tổng số dòng thuế), chủ yếu đối với gia cầm, dầu thực vật, thuốc lá, phân bón hóa học, than, cao su tự nhiên và các sản phẩm hóa dầu, quặng sắt, dầu thô, thép, máy móc, linh kiện ô-tô và tàu thủy.

4. Biện pháp Chứng nhận xuất xứ hàng hóa và Chứng nhận lưu hành tự do (Mục 4 và Mục 5)

Bên cạnh các biện pháp quản lý nêu trên, Luật còn quy định về biện pháp chứng nhận xuất xứ hàng hóa và chứng nhận lưu hành tự do. Tuy nhiên, đây không phải là những biện pháp bắt buộc với thương nhân hoạt động xuất nhập khẩu nói chung mà thực hiện theo yêu cầu của thương nhân để được hưởng ưu đãi thuế hoặc theo yêu cầu của nước xuất khẩu, nhập khẩu.

Về biện pháp chứng nhận xuất xứ hàng hóa, nguyên tắc áp dụng được quy định tại Dự thảo, theo đó, thương nhân khi có nhu cầu hưởng ưu đãi thuế, hoặc nước nhập khẩu có yêu cầu bắt buộc về chứng nhận xuất xứ, hoặc khi thương nhân có nhu cầu xin chứng nhận xuất xứ (mà không thuộc hai trường hợp trước) thì được cơ quan nhà nước chứng nhận xuất xứ đối với hàng hóa. Theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, Dự thảo Luật cũng quy định cơ quan có thẩm quyền chứng nhận xuất xứ hàng hóa là Bộ Công Thương hoặc các cơ quan, tổ chức được Bộ Công Thương ủy quyền (như VCCI, các Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất...). Cơ quan có trách nhiệm kiểm tra xuất xứ hàng hóa là Bộ Tài chính (cơ quan Hải quan).

Chứng nhận lưu hành tự do là một biện pháp đang được một số quốc gia áp dụng đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam. Theo đó, nước nhập khẩu yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chứng nhận sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam đã được lưu hành tự do tại Việt Nam trước khi xuất khẩu (ví dụ như Vương quốc Anh đang áp dụng biện pháp này đối với các sản phẩm thực phẩm, đồ uống không có xuất xứ từ EU hoặc Hoa Kỳ áp dụng với thực phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng). Từ thực tiễn đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 10/2010/QĐ-TTg ngày 10 tháng 02 năm 2010 quy định về chứng nhận lưu hành tự do (CFS) đối với sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu.

Dự thảo Luật quy định nguyên tắc áp dụng biện pháp này, theo đó cơ quan nhà nước chỉ thực hiện cấp CFS theo yêu cầu của thương nhân khi xuất khẩu hàng hóa tới các thị trường nhập khẩu có yêu cầu loại giấy tờ này. Ngược lại, cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam cũng có thể yêu cầu hàng hóa nhập khẩu phải xuất trình loại giấy này nhằm tránh trường hợp một số loại hàng chỉ được sản xuất để xuất khẩu sang nước khác nhưng không được phép lưu thông trên chính nước sản xuất. Trên thực tế, đối với doanh nghiệp xuất khẩu của ta, việc cấp giấy chứng nhận CFS là tạo thuận lợi cho họ, giúp họ lưu hành sản phẩm của mình tại nước khác một cách dễ dàng hơn, không bị mất thời gian, chi phí không đáng có.

2.2.5. Biện pháp quản lý hoạt động ngoại thương khác (Mục 6)

Dự thảo Luật quy định các biện pháp quản lý hàng hóa tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập; chuyển khẩu; quá cảnh; đại lý mua bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài; ủy thác và nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu; gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài và đặt gia công hàng hóa ở nước ngoài. Theo đó, Luật đang quy định nguyên tắc, thẩm quyền quản lý các hoạt động này. Chi tiết các điều kiện, trình tự, thủ tục cụ thể sẽ được quy định tại các văn bản dưới luật.

Ngoài ra, Dự thảo Luật cũng dành một mục quy định về các biện pháp quản lý hoạt động ngoại thương với các nước có chung đường biên giới (Mục 7) và Quản lý hàng hóa đối với khu vực hải quan riêng (Mục 8).

 



[1] GATT: Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch

[2] Trước 1995 do GATT cấm sử dụng hạn ngạch nhập khẩu, nên một số nước đã sử dụng biện pháp hạn chế xuất khẩu "tự nguyện". Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một thoả thuận song phương giữa hai chính phủ. Nước xuất khẩu giới hạn xuất khẩu một số sản phẩm nhất định tới nước nhập khẩu. Nói chung, ngành công nghiệp đang phải cạnh tranh gay gắt với hàng nhập khẩu tương tự gây áp lực với chính phủ đàm phán về hạn chế xuất khẩu với nước xuất khẩu để giảm bớt áp lực cạnh tranh. Các nhà xuất khẩu bị "bắt buộc" chấp nhận số lượng đó và bị đe doạ nhận được các hành động khắc nghiệt hơn nếu không chấp nhận thoả thuận tự nguyện hạn chế số lượng xuất khẩu. Chính phủ xuất khẩu hoặc chính các nhà xuất khẩu quản lý thoả thuận này. Hạn chế xuất khẩu tình nguyện từng là một công cụ quan trọng hạn chế thương mại và đã được sử dụng khá rộng rãi. Trong khi hạn ngạch được áp dụng chung thì hạn chế xuất khẩu tình nguyện chỉ áp dụng với một số nước xuất khẩu chủ yếu, do đó tạo ra sự phân biệt đối xử giữa các thành viên và rõ ràng vi phạm nguyên tắc tối huệ quốc (MFN).

[3] Báo cáo Ban công tác – Văn kiện gia nhập WTO của Việt Nam:

72. Đại diện của Việt Nam cung cấp thông tin về doanh nghiệp thương mại nhà nước được hưởng độc quyền hoặc đặc quyền trong tài liệu WT/VNM/3/Add1, Phụ lục 6 và "Thông báo về các Doanh nghiệp Thương mại Nhà nước" trong tài liệu WT/ACC/VNM/14 ngày 28/6/2000, sau đó được sửa đổi trong tài liệu WT/ACC/VNM/14/Add.1 ngày 31/10/2003 và WT/ACC/VNM/14/Add.2 ngày 21/4/2006 và WT/ACC/VNM/14/Rev.1 ngày 6 tháng 10 năm 2006. Các đơn vị được xác định là doanh nghiệp thương mại nhà nước được hưởng độc quyền hay đặc quyền và các mặt hàng kinh doanh của các đơn vị này ghi theo mã số HS được trình bày chi tiết tại Bảng 5. Việt Nam lưu ý rằng tất cả các doanh nghiệp thương mại nhà nước ở Việt Nam đều vận hành theo tiêu chí thương mại. Việt Nam cũng xác nhận rằng doanh nghiệp thương mại nhà nước của Việt Nam không có chức năng hoạch định chính sách trong ngành mà các doanh nghiệp này hoạt động. Chức năng hoạch định chính sách thuộc về các cơ quan chính phủ.”

[4] Thông báo 197/TB-BCT ngày 06 tháng 5 năm 2011 của Bộ Công Thương hướng dẫn thêm về thủ tục nhập khẩu các mặt hàng rượu, mỹ phẩm, điện thoại di động: Thương nhân chỉ được làm thủ tục nhập khẩu, thông quan tại các cảng biển quốc tế: Hải Phòng, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh

[5] Thông tư liên tịch số 25/2010/TTLT-BCT-BGTVT-BTC ngày 14/6/2010 quy định việc nhập khẩu ô tô chở người dưới 16 chỗ ngồi, loại mới (chưa qua sử dụng). Theo đó, ô tô chở người chỉ được nhập khẩu về Việt Nam qua các cửa khẩu cảng biển quốc tế: Cái Lân – Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK