BÀN VỀ TÍNH KHẢ THI CỦA LUẬT QUY HOẠCH
Cập nhật : 9:45 - 12/05/2017

 

 

Tại phiên họp lần thứ 8 của Ủy ban thường vụ Quốc hội XIV ngày 17/3/2017 vừa qua, một trong những vấn đề còn gây tranh cãi đối với Dự thảo Luật Quy hoạch đó là: “Tính khả thi” của Luật này. Trong khi đại diện của Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẳng định Luật Quy hoạch hoàn toàn có thể thực hiện được thì đại diện của Ủy ban Tư pháp còn băn khoăn về tính khả thi của Luật Quy hoạch khi phải sửa đổi, bổ sung 32 luật có liên quan. Thêm vào đó, ngay trong nội bộ của Chính phủ, các bộ, ngành liên quan còn chưa có sự thống nhất về việc có nên tiếp tục đưa luật này để cho ý kiến trong chương trình kỳ họp Quốc hội của năm nay hay không.

Khả thi là khả năng thực hiện trên thực tế và đảm bảo tính khả thi của văn bản pháp luật là một yêu cầu rất quan trọng được đặt ra trong suốt quá trình xây dựng văn bản. Bảo đảm tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật là một trong năm nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo Điều 3 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015. Cũng theo quy định của Luật này thì việc đánh giá tính khả thi của một dự thảo văn bản sẽ bao gồm 02 tiêu chí : (1) Sự phù hợp giữa quy định của dự thảo văn bản với yêu cầu thực tế, trình độ phát triển của xã hội và (2) Điều kiện đảm bảo để thực hiện (điểm d, khoản 3, Điều 36 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015).

Trong bối cảnh Luật Quy hoạch có thể khả thi hay không đang nhận được nhiều ý kiến khác nhau từ phía cơ quan thẩm tra, cơ quan soạn thảo và các đơn vị có liên quan, bài viết sẽ phân tích, đánh giá tính khả thi của các quy định hiện nay trong Dự thảo Luật Quy hoạch thông qua các tiêu chí nêu trên[1].

1. Sự phù hợp của các quy định của Dự thảo Luật Quy hoạch với điều kiện kinh tế- xã hội hiện nay

Dự thảo Luật Quy hoạch gồm 6 chương, 69 điều tập trung điều chỉnh việc lập, thẩm định, phê duyệt, công bố, thực hiện, điều chỉnh, giám sát, đánh giá, kiểm tra, thanh tra quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch trừ quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn, quy hoạch đơn vị hành chính- kinh tế đặc biệt; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động quy hoạch.  

Bối cảnh nước ta hiện nay cho thấy thực trạng quy hoạch hiện nay ở nước ta đặt ra những vấn đề như sau:

Thứ nhất, Số lượng quy hoạch trên tất cả các lĩnh vực ngành nghề kinh tế- xã hội trên phạm vi cả nước rất lớn, nhiều quy hoạch đã xây dựng nhưng không được thực hiện hoặc được thực hiện một cách không thống nhất đã gây ra sự chồng chéo, lãng phí nguồn lực quốc gia;

Thứ hai, Khách quan và minh bạch còn chưa được đảm bảo trong hoạt động quy hoạch ở nước ta do thiếu cơ chế thông tin về quy hoạch, nhiều quy định còn cho phép cán bộ có thẩm quyền áp đặt cơ chế xin-cho…;

Thứ ba, Chưa có sự thống nhất trong quy hoạch giữa các ngành, các vùng trên địa bàn cả nước;

Xem xét các quy định của Dự thảo Luật Quy hoạch hiện hành thì các quy định này đã phản ánh và đáp ứng được việc giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực tiễn ở mức độ như sau:

Một là, Dự thảo Luật Quy hoạch với phạm vi là: “Quy định về tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện các loại quy hoạch” sẽ thống nhất tổ chức quy hoạch trong phạm vi cả nước. Thêm vào đó, quy định về nguyên tắc cơ bản trong hoạt động quy hoạch tại các khoản 2 và 3, Điều 4 của Dự thảo, cụ thể là “Đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội” và “Đảm bảo sự tuân thủ, tính liên tục, tính kế thừa, tính ổn định trong hệ thống quy hoạch ở Việt Nam” tạo ra nền tảng, cơ sở cho việc thực hiện hoạt động quy hoạch một cách có hệ thống, hạn chế được những tồn tại đã được phân tích ở trên.

Hai là, Bên cạnh các quy định về hoạt động quản lý của Nhà nước đối với quy hoạch thì Dự thảo lần này đã có quy định về “quyền tham gia ý kiến và giám sát hoạt động quy hoạch” của cơ quan, tổ chức, cộng đồng và cá nhân. Quy định này là cơ sở pháp lý cho hoạt động giám sát đối với quy hoạch và chắc chắn sẽ góp phần làm cho hoạt động này trở nên khách quan, minh bạch hơn. Hơn nữa, việc giám sát của cộng đồng còn được đề cao với quy định của Điều 54 cùng với dẫn chiếu đến pháp luật về dân chủ.

Tuy nhiên, ở góc độ công khai, quy định của luật còn hạn chế khi chỉ quy định về việc lấy ý kiến đối với quy hoạch tại Điều 19. Theo đó, điều luật này mới chỉ quy định lấy ý kiến đối với một số đối tượng mà chưa có cơ chế cụ thể cho việc tiếp thu ý kiến. Từ đây, việc lấy ý kiến có thể trở nên hình thức nếu không có quy định cụ thể về việc quá trình tiếp thu ý kiến, đặc biệt là ý kiến của cộng đồng.

Về cơ chế thông tin về quy hoạch, Luật Quy hoạch đã đề cao tầm quan trọng của vấn đề thông tin, tiếp cận thông tin trong lĩnh vực quy hoạch khi dành một mục riêng biệt về thông tin quy hoạch với quy định về công bố, cung cấp, lưu trữ thông tin và hệ thống dữ liệu, hồ sơ tại các điều từ 48 đến 54 của Dự thảo. Quy định này không chỉ đáp ứng được việc giải quyết vấn đề đảm bảo tính công khai trong hoạt động quy hoạch mà còn phù hợp với thông lệ quốc tế về việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin và đảm bảo công khai trong hoạt động quản lý.  

Ba là,  Vấn đề quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh đã được phần nào giải quyết khi các quy định của các điều 26 và 27 của Dự thảo, và quy định về điều chỉnh quy hoạch. Tuy nhiên, việc thiếu vắng quy định về quy hoạch ngành trong Dự thảo khiến cho vấn đề thống nhất quy hoạch ngành trên thực tế chưa được giải quyết.  Ở điểm này, Dự thảo Luật quy hoạch chưa đáp ứng được tiêu chí thứ nhất của tính khả thi.

2. Luật quy hoạch với điều kiện đảm bảo thực hiện

Để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật nước ta, việc thực thi các quy định của Dự thảo Luật Quy hoạch đòi hỏi sửa đổi, bổ sung khoảng 32 luật khác nhau có liên quan[2]. Điều này trở thành vấn đề lo ngại của cơ quan có trách nhiệm thẩm tra khi thời gian sửa đổi, bổ sung số lượng luật lớn sẽ ảnh hưởng tới thời hạn có hiệu lực của Luật Quy hoạch. Tuy nhiên, có ý kiến lại cho rằng, mặc dù số lượng luật tương đối lớn nhưng việc sửa đổi rất đơn giản nên sẽ không trở thành trở ngại. Đối với vấn đề này, chúng tôi có những nhận định cụ thể như sau:

Thứ nhất, Số lượng luật phải sửa đổi, bổ sung là tương đối lớn. Tuy nhiên, đối với vấn đề quy hoạch, vốn là vấn đề liên quan đến rất nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau, việc xây dựng luật này ở thời điểm nào cũng sẽ vướng khi hệ thống pháp luật của chúng ta chưa thực sự hoàn thiện. Nếu như chờ các luật khác hoàn thiện mới đặt ra vấn đề xây dựng Luật Quy hoạch thì những vấn đề cấp bách trong lĩnh vực quy hoạch hiện nay sẽ không được giải quyết;

Thứ hai, Quy định của Luật Quy hoạch có thể thực hiện trên thực tế như thế nào còn phụ thuộc vào chất lượng xây dựng pháp luật và các cơ chế thi hành các quy định này sau đó. Mặc dù, quá trình xây dựng Dự thảo luật cần phải tính đến khả năng thực thi trên thực tế, nhưng thực tế cho thấy việc dự báo không thể chính xác tuyệt đối. Nhiều dự luật được xây dựng với kỳ vọng sẽ được thực thi tốt nhưng quá trình sau đó do không được quan tâm đã khiến cho hiệu quả của luật bị giảm sút. Do vậy, có thể khẳng định rằng, việc đảm bảo thực hiện có thể dự báo nhưng hiệu quả đến đâu còn tùy thuộc phần lớn vào quá trình thi hành sau khi ban hành luật.  

Thứ ba, khi việc cần thiết phải xây dựng một luật đã được đặt ra, việc giải quyết các vấn đề của thực tiễn được thực hiện bởi các quy định đang xây dựng thì các cơ quan có thẩm quyền cần đồng thời có chiến lược và biện pháp để đảm bảo thực hiện. Đó không chỉ là giải pháp về mặt lập pháp mà còn là những giải pháp khác như chính sách, nguồn lực…

Thứ tư, trong bối cảnh vấn đề minh bạch trong quản lý nhà nước nói chung và trong quy hoạch nói riêng được đề cao và đảm bảo trên toàn thế giới, việc xây dựng và ban hành luật thống nhất các hoạt động quy hoạch ở nước ta vừa tạo điều kiện cho việc hòa nhập với xu thế của thế giới, vừa tạo điều kiện cho phát triển kinh tế- xã hội. Đối với kinh tế, khi quy hoạch được công khai và triển khai quản lý, thực hiện một cách có hiệu quả, nhiều dự án đầu tư sẽ được thực hiện trên lãnh thổ, tạo thêm nhiều việc làm và giá trị kinh tế. Đồng thời, đối với xã hội, quyền cơ bản của con người, của công dân, đặc biệt là “quyền tiếp cận thông tin”, “quyền tham gia vào quản lý nhà nước” sẽ được đảm bảo theo quy định của Hiến pháp 2013. Đây là nền tảng của việc xây dựng nhà nước pháp quyền, ở đó, pháp luật là tối thượng và người dân là chủ của đất nước.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá nêu trên, chúng tôi thấy rằng, việc xây dựng và ban hành Luật Quy hoạch mặc dù gặp nhiều khó khăn, trở ngại nhưng những lợi ích của Dự thảo luật này nhiều hơn hạn chế. Hơn nữa, đó chỉ là những hạn chế nhỏ và có thể khắc phục được trong thời gian tới.

 



[1] Phân tích được thực hiện dựa trên Dự thảo Luật trình tại Phiên họp thứ 8 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV

[2] Xem thông tin về phiên họp UBTVQH cho ý kiến về Dự thảo Luật Quy hoạch

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK