Pháp luật của Việt Nam về đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng có yếu tố nước ngoài
Cập nhật : 9:43 - 12/05/2017

 

 

 

Tham nhũng là một hiện tượng xã hội phức tạp với nhiều biểu hiện khác nhau. Ở xã hội hiện đại, tham nhũng xảy ra ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế. Trong từng quốc gia, tham nhũng có thể xảy ra ở nhiều lĩnh vực và luôn song hành cùng quyền lực. Bí thư Thành ủy TP.HCM Đinh La Thăng đã  nói tham nhũng “khuyết tật bẩm sinh của quyền lực” [1]. Chừng nào các hình thức quyền lực chính trị còn bị tha hóa thì nguy cơ xảy ra tham nhũng vẫn còn.

Cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động hội nhập quốc tế, tội phạm tham nhũng có yếu tố nước ngoài đã xuất hiện với phương thức, thủ đoạn phạm tội đa dạng, tinh vi hơn khiến công tác phòng, chống tham nhũng càng khó khăn. Một số vụ án tham nhũng có yếu tố nước ngoài điển hình ở Việt Nam thời gian qua có thể kể đến: Vụ án Huỳnh Ngọc Sỹ nhận hối lộ xảy ra tại Ban Quản lý Dự án Đại lộ Đông- Tây và Môi trường nước TP. Hồ Chí Minh; Vụ án tham nhũng xảy ra tại Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam- Vinashin; Vụ án tham ô tài sản tại Ban Quản lý các dự án 18 (PMU18), Bộ Giao thông vận tải….Do đó công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng càng đặt ra những yêu cầu, giải pháp cấp thiết và toàn diện hơn.

1.               Pháp luật của Nhà nước về công tác phòng, chống tội phạm tham nhũng có yếu tố nước ngoài

Ở Việt Nam chưa có quy định pháp luật hình sự nào đưa ra định nghĩa về “tội phạm có yếu tố nước ngoài”. Bộ luật Dân sự của nước ta quy định “yếu tố nước ngoài” bao gồm: Chủ thế tham gia quan hệ pháp luật là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh tại nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài; Tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài[2]. Với định nghĩa trên có thể hiểu tội phạm tham nhũng có yếu tố nước ngoài là loại tội phạm tham nhũng có liên quan tới nước ngoài về đối tượng phạm tội, đối tượng bị xâm hại, địa bàn thực hiện  tội phạm và hiệu lực pháp lý.

Pháp luật của Việt Nam về công tác phòng, chống tội phạm tham nhũng có yếu tố nước ngoài được quy định trong Hiến pháp, Luật và các văn bản quy phạm pháp luật.

- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, tại Khoản 7-8, Điều 112 quy định: “Chính phủ có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:… 7- Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước; công tác thanh tra và kiểm tra Nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; 8- Thống nhất quản lý công tác đối ngoại của Nhà nước; ký kết, tham gia, phê duyệt điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;…”. Điều này một này nữa được khẳng định tại Khoản 5 và 7, Điều 96, Chương VII trong Hiến pháp năm 2013.

- Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2007 quy định một cách khái quát, toàn diện về nạn tham nhũng, tội phạm tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng.

- Bộ luật hình sự Việt Nam quy định người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam đều phải chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam, trừ các trường hợp được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoắc quyền ưu đãi, miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Đối với việc phòng, chống tham nhũng, Luật hình sự của Việt Nam đã hình sự hóa một số hành vi tham nhũng.

- Bộ luật tố tụng hình sự quy định về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự trong 2 chương 36-37. Đây là việc hợp tác giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự của Việt Nam với các cơ quan có thẩm quyền tương đương của nước ngoài trên cơ sở điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.

- Luật tương trợ tư pháp năm 2007

- Một số luật, nghị định và văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan làm cơ sở pháp lý cho công tác phòng, chống tội phạm tham nhũng có yếu tố nước ngoài.

2.               Những hạn chế, bất cập trong công tác phòng, chống tham nhũng có yếu tố nước ngoài – Đề xuất

Công tác hoàn thiện thể chế về phòng, chống tham nhũng chậm và chưa đồng bộ, một số quy định thiếu tính khả thi. Vẫn còn nhiều vướng mắc về việc quy định xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức xảy ra tham nhũng. Các biện pháp phát hiện tham nhũng chưa được thực hiện đồng bộ, chủ yếu qua đơn thư tố giác, rất ít cơ quan, tổ chức tự phát hiện tham nhũng trong nội bộ. Việc phát hiện và xử lý tham nhũng qua công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán còn chậm.

Tổ chức hoạt động của các cơ quan, đơn vị chuyên trách về phòng chống tham nhũng chưa đủ mạnh. Đặc biệt công tác dự báo và cơ chế kiểm soát tình trạn tham nhũng ở các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, nơi xảy ra một số vụ án tham nhũng lớn những năm gần đây, vẫn còn yếu.

Hệ thống pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết có nhiều quy định về tham nhũng và tội phạm tham nhũng , tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có khái niệm cụ thể nào về tội phạm tham nhũng có yếu tố nước ngoài, dẫn đến tình trạng lúng túng trong áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Công tác hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng chưa được toàn diện. Nhiều đoàn đi nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm phòng , chống tham nhũng ở nước ngoài nhưng việc vận dụng vào thực tế ở Việt Nam còn ít và chưa hiệu quả…

Có thể thấy, công tác phòng, chống tham nhũng cần thực hiện đồng bộ giữa những biện pháp mang tính cấp bách với những giải pháp mang tính chiến lược, trong đó có sự phối hợp chặt chẽ mọi lực lượng đấu tranh chống tham nhũng. Một số biện pháp cần thiết và phải được chú trọng thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phòng chống tham nhũng nói chung, đặc biệt là phòng, chống tội phạm tham nhũng có yếu tố nước ngoài, đó là:

- Thứ nhất, coi trọng biện pháp giáo dục đạo đức cách mạng.

- Thứ hai, xây dựng , hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế, xã hội, về công tác cán bộ phục vụ phòng chống tham nhũng; nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng chống tham nhũng

Hoàn thiện thể chế quản lý doanh nghiệp nhà nước, thực hiện quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu nhà nước đối với vốn và tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp. Cơ  cấu lại các tập đoàn tài chính, tổng công ty nhà nước, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp. Hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài.

- Thứ ba, nghiên cứu, xây dựng, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng và tội phạm tham nhũng có yếu tố nước ngoài.

Cần phải xác định tầm quan trọng của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong quá trình hội nhập quốc tế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của toàn xã hội. Hiện nay, Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng là văn bản rất quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng nói chung và tội phạm tham những có yếu tố nước ngoài nói riêng. Tuy nhiên các cơ quan chức năng chưa chủ động nghiên cứu, nội luật hóa các hành vi tham nhũng có yếu tố nước ngoài. Việt Nam chưa có các quy định về bảo vệ nhân chứng, bảo vệ người tố giác tham nhũng như Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng.

Bên cạnh đó cũng cần nghiên cứu, xây dựng và ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp song phương về đấu tranh phòng, chống tham nhũng với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.

- Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế về phòng chống tham nhũng, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trong công tác phòng chống tham nhũng.

- Thứ năm, cải cách hành chính để hạn chế điều kiện nảy sinh tham nhũng. Công khai hóa các thủ tục hành chính, đặc biệt là những thủ tục hành chính dễ phát sinh tham nhũng như cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đất, xét duyệt cấp phát vốn ngân sách, xét duyệt phân bổ những dự án lớn…

- Thứ sáu,  xét xử nghiêm minh, kịp thời và công khai với những mức hình phạt thích đáng đối với các hành vi tham nhũng, nhất là hoạt động tham nhũng có yếu tố nước ngoài.

 

Tài liệu tham khảo

1.     Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992

2.     Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005

3.     Luật tương trợ tư pháp năm 2007

4.     Bộ luật Hình sự năm 1999

5.     Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

6.     Pháp lệnh phòng, chống tham nhũng

7.     Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng

8.     GS.TS. Phạm Ngọc Hiền, Hỏi đáp về bảo vệ an ninh quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, NXB. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011

9.     PGS.TSKH. Phan Xuân Sơn, Phân loại tham nhũng, biện pháp cần thiết trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,, Hà Nội, 2012

10.  Ths. Nguyễn Xuân Trường, Phòng, chống tội phạm tham nhũng có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012

11.  Nhiều tác giả, Hội nhập kinh tế quốc tế, những vấn đề đặt ra đối với công an nhân dân, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011

12.  http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/Phong-chong-tham-nhung/2013/19790/Tham-nhung-nguyen-nhan-va-bien-phap-ngan-ngua.aspx

 

 

 

 

 



[2] Bộ luật Dân sự, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK