Quy định về người được trợ giúp pháp lý trong pháp luật một số nước - Gợi ý cho Việt Nam
Cập nhật : 14:24 - 20/12/2016

 

Nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế của Luật Trợ giúp pháp lý 2006, đồng thời đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam, sự phù hợp của pháp luật Việt Nam với các quy định của Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, dự thảo Luật trợ giúp pháp lý (sửa đổi) dự kiến sẽ được xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI. Một trong những nội dung quan trọng được sửa đổi trong Dự luật là quy định về người được trợ giúp pháp lý. Theo đó, Điều 8 của Dự thảo đưa ra 3 nhóm người được trợ giúp pháp lý. Việc lựa chọn 3 nhóm đối tượng được hưởng trợ cấp pháp lý cần phải được nghiên cứu kỹ. Bài viết sẽ giới thiệu một số quy định về người được hưởng trợ giúp pháp lý trong pháp luật của một số nước, từ đó đưa ra một số gợi ý trong việc xây dựng quy định về người được hưởng trợ giúp pháp lý ở Việt Nam.

I.                Quy định về người được trợ giúp pháp lý trong pháp luật một số nước

1.  Malaysia

  Luật trợ giúp pháp lý năm 1971, Quy tắc về trợ giúp và hỗ trợ pháp lý năm 1970 và 2006 là những văn bản pháp luật có các quy định về trợ giúp pháp lý miễn phí tại Malaysia. Theo quy định của các văn bản này thì việc trợ giúp lý chỉ được thực hiện khi người cần trợ giúp có các vấn đề pháp lý. Do vậy, trợ giúp pháp lý không liên quan đến tranh chấp chưa được thực hiện ở Malaysia. Về người được hưởng trợ giúp pháp lý, quy định của nước này có sự khác nhau theo loại trợ giúp pháp lý và theo cơ quan thực hiện trợ giúp pháp lý.

-    Trợ giúp pháp lý do Chính phủ cung cấp, dành cho các vụ việc dân sự, bào chữa hình sự và chỉ công dân của Malaysia là đối tượng được hưởng;

-    Trợ giúp do Đoàn Luật sư cung cấp, dành cho các vụ việc dân sự, hình sự và cả công dân và không phải công dân là đối tượng được hưởng (ưu tiên cho các vấn đề liên quan đến lợi ích công);

-    Trợ giúp pháp lý do Qũy trợ giúp pháp lý quốc gia cung cấp, chỉ dành cho các vụ việc hình sự và công dân, những người không phải là công dân nhưng là trẻ em, các trường hợp xin miễn hình phạt tử hình là đối tượng được hưởng.

  Qua kinh nghiệm của Malaysia có thể thấy, việc trợ giúp pháp lý là miễn phí nhưng tùy vào từng loại trợ giúp pháp lý và đơn vị thực hiện trợ giúp pháp lý mà quy định đối tượng được hưởng lợi.

2. Hungary

Theo quy định về trợ giúp pháp lý của Hungary, người được hưởng trợ giúp pháp lý gồm các đối tượng:

- Là công dân Hungary;

- Người có yêu cầu trợ giúp pháp lý liên quan đến việc xin thị thực, xin phép cư trú hoặc thường trú hoặc xin nhập quốc tịch nếu tổ tiên của những đối tượng đó là hoặc trước đây đã là công dân Hungary; hoặc là người tham gia vào thủ tục hồi hương hoặc tị nạn.

- Người cần trợ giúp pháp lý không phải là công dân Hungary và quốc gia của họ đã ký hiệp định quốc tế về trợ giúp pháp lý với Hungary hoặc theo nguyên tắc có đi có lại giữa quốc gia của đối tượng trợ giúp pháp lý đó với Hungary

- Người có quyền tự do đi lại và cư trú theo luật nhập cư (công dân của các nước thành viên EU, EFTA)

- Công dân nước ngoài cư trú tại Hungary

- Đối tượng được phép cư trú vì lý do nhân đạo.

Có thể thấy, so với quy định của nhiều nước, Hungary cung cấp trợ giúp pháp lý cho cả những đối tượng không phải là công dân của nước này trong các điều kiện cụ thể. Việc này phù hợp với Công ước quốc tế về quyền con người và các văn kiện châu Âu về nhân quyền, đặc biệt là các quy định có liên quan đến đảm bảo tiếp cận trợ giúp pháp lý cho tất cả mọi người.

Bên cạnh đó, nước này còn quy định điều kiện để nhận được trợ giúp pháp lý là đối tượng đó phải nằm trong diện khó khăn về mặt tài chính. Theo đó, đối tượng có thu nhập thực hàng tháng (lương, trợ cấp hoặc các khoản trợ cấp tiền mặt thường xuyên khác) dưới mức trợ cấp hưu trí tối thiểu thì được nhà nước chi trả phí trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, Luật Trợ giúp pháp lý tự động coi một số đối tượng là nghèo khó mà họ không cần phải chứng minh tình hình tài chính của mình là dưới ngưỡng theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý. Ngoài ra, trợ giúp pháp lý theo hình thức thanh toán chậm (nhà nước chi trả phí trợ giúp pháp lý trước) cũng áp dụng với những người mà tình hình tài chính của họ chỉ khá hơn mức đói nghèo một chút.

Luật Trợ giúp pháp lý đặt ra những tiêu chuẩn kỹ lưỡng cho việc thẩm tra và quyết định mức độ đói nghèo. Thẩm tra xác định mức độ đói nghèo để đủ điều kiện hưởng trợ giúp pháp lý đầy đủ trong trường hợp nhà nước chi trả toàn bộ chi phí trợ giúp pháp lý như sau:

- Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng trong gia đình của đối tượng trợ giúp pháp lý dưới mức trợ cấp tối thiểu dành cho người già và người đó không có tài sản cần thiết đảm bảo cuộc sống thông thường.

- Đối với những người độc thân, thu nhập thực hàng tháng dưới 150% của trợ cấp tối thiểu dành cho người già.

- Đối với nạn nhận của tội phạm, nếu thu nhập của họ dưới 86% của tổng lương trung bình hàng tháng

Một số đối tượng tự động được coi là đói nghèo và nhà nước sẽ chi trả chi phí trợ giúp pháp lý mà không cần đánh giá tình hình tài chính của họ (đương nhiên đói nghèo, Điều 5 Luật trợ giúp pháp lý):

- Người nhận trợ cấp xã hội thường xuyên

- Người nhận được chăm sóc sức khỏe công cộng miễn phí

- Người vô gia cư

- Người tị nạn, người được cung cấp bảo vệ tạm thời hoặc phụ thuộc, các đương đơn xin tị nạn

- Các vấn đề liên quan đến thị thực, giấy phép cư trú và nhập tịch, người có tổ tiên là công dân Hungary

- Những người chăm sóc trẻ em nhận được trợ cấp bảo vệ trẻ em thường xuyên.

Để có thêm sự linh hoạt trong việc xem xét mức độ đói nghèo, Luật trợ giúp pháp lý cho phép các cơ quan trợ giúp pháp lý xác nhận một người thuộc diện đói nghèo nếu thu nhập của người đó vượt ngưỡng nhưng vì những hoàn cảnh khác (ví dụ người khuyết tật, bệnh nhân) khiến cho họ không thể có được trợ giúp pháp lý trên thị trường sử dụng dịch pháp lý có thu.

3. Slovenia     

Tại Slovenia, trợ giúp pháp lý sẽ được cung cấp cho đối tượng sau nếu họ chứng minh được rằng khả năng tài chính của họ và gia đình họ không thể đáp ứng chi phí theo kiện, bao gồm:

- Công dân nước Cộng hoà Slovenia cư trú thường xuyên ở trong nước;

- Người nước ngoài có giấy phép cư trú lâu dài hoặc tạm thời ở Slovenia, người không có quốc tịch đang cư trú hợp pháp tại Slovenia;

- Người nước ngoài khác đáp ứng điều kiện có đi có lại hoặc các điều kiện và hoàn cảnh nêu tại các Điều ước quốc tế mà Slovenia tham gia;

- Các hiệp hội và tổ chức phi Chính phủ hoạt động vì lợi ích công, có đăng ký hợp pháp về việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến các hoạt động công ích hoặc các hoạt động nêu tại tôn chỉ hoạt động của hiệp hội, tổ chức đó (không phụ thuộc vào khả năng tài chính);

- Các đối tượng khác mà luật hoặc các Điều ước quốc tế do Slovenia ký kết quy định họ đủ tiêu chuẩn hưởng trợ giúp pháp lý.

II. Một số gợi ý cho Việt Nam trong quá trình xây dựng Dự thảo Luật trợ giúp pháp lý (sửa đổi)

Qua nghiên cứu một số quy định về người được trợ giúp pháp lý trong pháp luật một số nước, có thể rút ra một số gợi ý  trong quá trình xây dựng dự thảo Luật trợ giúp pháp lý (sửa đổi):

Thứ nhất, việc nội luật hóa các quy định  của Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý cần phải được tiến hành một cách nghiêm túc và chặt chẽ, vì điều này sẽ làm ảnh hưởng đến  quá trình xây dựng luật quốc gia. Các văn kiện quốc tế thường khuyến nghị việc đảm bảo quyền được trợ giúp pháp lý cho tất cả mọi người có khó khăn về tài chính. Điều này nên được quy định trong luật quốc gia dưới dạng không có sự phân biệt về giới… mà chỉ nên quan tâm đến vấn đề chủ quyền quốc gia (là người mang quốc tịch nước đó hay không) và vấn đề tình trạng tài chính.

Thứ hai, không nên liệt kê một cách chi tiết những người được hưởng trợ giúp pháp lý (quy định trong Điều 8 của dự thảo) mà nên quy định theo nhóm (phân định theo yếu tố quốc tịch), vấn đề người đương nhiên được hưởng trợ giúp pháp lý mà không cần chứng minh điều kiện khó khăn (người có công với cách mạng, trẻ em…) nên quy định tại một điều luật riêng. Bởi vì nếu liệt kê cụ thể có thể dẫn đến tình trạng  liệt kê thiếu, khi có sự thay đổi trong xã hội, quy định của Luật sẽ nhanh chóng bị lạc hậu.

Thứ ba, cùng với việc mở rộng đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý, việc cung cấp trợ giúp pháp lý miễn phí cần được cân nhắc dựa trên tình hình thực tế của nước ta.

 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIII:

Tổng số đại biểu là 497 người;
- 33.4đại biểu ở các cơ quan trung ương;
- 65.8% đại biểu ở địa phương;
- 15.6% đại biểu là người dân tộc thiểu số;
- 24.4% đại biểu là phụ nữ;
- 8.4% đại biểu là người ngoài Đảng;
- 12.2% đại biểu là trẻ tuổi (dưới 40);
- 33.2% là đại biểu Quốc hội khóa XII tái cử;
- 98,2% đại biểu có trình độ đại học và trên đại học;
- 7% đại biểu thuộc khối doanh nghiệp;
- 33% đại biểu hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội;
- 0.8% đại biểu là người tự ứng cử.

WEBLINK