VĂN PHÒNG HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH CẦN CÓ TỪ BA ĐẾN BỐN PHÒNG TRỰC THUỘC
Cập nhật : 9:45 - 12/01/2016

 

 

     Bộ Nội vụ đang chủ trì việc xây dựng nghị định của Chính phủ về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Đang trong quá trình xin ý kiến nên việ góp thêm một tiếng nói vào dự thảo Nghị định này cũng là một điều cần thiết. Ban Biên tập xin giới thiệu bài viết sau đây của đồng chí Trịnh Sao Mai, nguyên là cán bộ, lãnh đạo Vụ Công tác đại biểu, có nhiều kinh nghiệm liên quan chủ đề này.

Có lẽ ít văn bản nào khi đưa ra xin ý kiến lại được nhiều người quan tâm đến như vậy. Đặc biệt là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đang công tác trong lĩnh vực dân cử và trong Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đó là dự thảo Nghị định của Chính phủ về qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của Văn phòng HĐND cấp tỉnh do Bộ Nội vụ chủ trì soạn thảo.

     Vấn đề được quan tâm chính là cơ cấu tổ chức bộ máy của Văn phòng H ĐND cấp tỉnh, trong đó có cấp phòng. Vì sao vậy? Lý giải cho vấn đề này, chúng ta nên lướt qua Tờ trình của cơ quan soạn thảo Nghị định của Chính phủ nói gì. “Kết luận số 63- KL/ TƯ ngày 27/5/2013 của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa XI…tổ chức bộ máy của Văn phòng cần tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và thống nhất với Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, đề nghị Văn phòng HĐND không tổ chức phòng trực thuộc.”

     Ở đây có hai nội dung mà cơ quan soạn thảo đưa ra đó là tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và thống nhất với Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội. Thế nào là hiệu lực, hiệu quả? Tinh gọn nhưng phải bảo đảm tính khả thi để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của một cơ quan tham mưu, giúp cho cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương là HĐND. Tinh ngọn không có nghĩa là cắt bỏ một cấp trong tổ chức bộ máy của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh đang hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo qui định của Nghị quyết 545/2007/UBTVQH12, ngày 11/12/2007 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XII qui định “về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cơ cấu tổ chức của văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh”

     Trước hết cơ quan soạn thảo phải lý giải được tai sao lại phải cắt bỏ cấp phòng trong Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh hiện nay, phải chăng cấp phòng đã làm cản trở công việc của văn phòng, hay chỉ là đầu mối trung gian trong văn phòng. Nếu cơ quan soạn thảo chỉ ra được những điểm bất cập, những khó khăn trong hoạt động của cấp phòng để lại. Trong khi Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh ra đời  và hoạt động đến nay đã được 8 năm, trong 8 năm đó hoạt động của Văn phòng đã mang lại hiệu quả đáng kể, phục vụ tốt các hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh. Trong đó có đội ngũ công chức trong phòng và lãnh đạo cấp phòng. Thực tế hiện nay tại 63 Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh đều thành lập từ 3 phòng trở lên, trong số đó một số tỉnh thành lập từ 4 đến 5 phòng, có tỉnh thành lập 6 phòng. Trong số các phòng đó có phòng công tác đại biểu Quốc hội. Trong quá trình hoạt động của Văn phòng, nhiều địa phương căn cứ vào tình hình thực tế và chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan được phục vụ đã có sáng kiến đổi tên cho từng phòng đó là Phòng pháp chế, Phòng kinh tế - ngân sách, Phòng Văn hóa- xã hội, Phòng công tác dân tộc phù hợp với các ban của HĐND. Xu thế này đang được các địa phương tổng kết đánh giá để thực hiện một cách đồng bộ trên cả nước.Theo báo cáo kết quả hoạt động của HĐND các tinh, thành phố trực thuộc trung ương nhiệm kỳ 2011- 2016 đều đánh giá hiệu quả hoạt động của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND, trong đó có đánh giá hiệu quả hoạt động của các phòng chuyên môn. Khá nhiều địa phương khi đề nghị khi thành lập văn phòng cần thành lập các phòng chức năng theo các cơ quan của HĐND như: Thường trực HĐND, các ban của HĐND. Từ các kiến nghị của địa phương và từ thực tế hoạt động của các phòng chuyên môn trong văn phòng đang dần được khẳng định thì dự thảo Nghị định của Chính phủ qui định  về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của văn phòng lại cắt bỏ cấp phòng mà không lý giải vì sao thì thiếu tính thuyết phục. Khi đưa ra lý do tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả đã làm cho những người đang công tác trong các cơ quan dân cử cấp tỉnh và những người quan tâm ngỡ ngàng. Vấn đề ở đây không phải tinh gọn là cắt bỏ mà phải lựa chọn đúng người, đúng việc, đúng yêu cầu. Nếu cần có thể thành lập thêm phòng chứ không phải như Nghị quyết 545 thành lập 3 phòng, nơi nào thật sự cần thiết  có thể thành lập thêm phòng. Vì vậy việc cắt bỏ cấp phòng trong dự thảo Nghị định cần phải được xem xét một cách khoa học, chứ không phải cho thống nhất với Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội.

     Thế nào là thống nhất với Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và vì sao lại phải thống nhất với văn phòng đó chứ không phải thống nhất với văn phòng Ủy ban nhân dân cùng cấp. Nếu cần thống nhất thì thống nhất với Văn phòng UBND có lẽ còn có vẻ phù hợp hơn. Vì hai văn phòng này đều phục vụ hai cơ quan nằm trong cùng cấp chính quyền địa phương. Trong khi UBND cấp tỉnh đang thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo qui định tại Thông tư liên tịch số 01/2015/TTLT- VPCP - BNV ngày 23/10/2015 của liên Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ thì cơ cấu Văn phòng UBND cấp tỉnh có từ 8 đến 10 đơn vị hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc. Nếu thống nhất được với Văn phòng UBND thì số lượng ý kiến phản hồi chắc chắn ít hơn rất nhiều. Vì vậy nếu cần có sự thống nhất tương đối thì chí ít Văn phòng HĐND cấp tỉnh cũng được bố trí từ 3 đến 4 đơn vị cấp phòng.

     Hơn nữa trong tình hình thực tế hiện nay tổ chức và hoạt động của H ĐND các cấp đã được Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 qui định có khá nhiều điểm mới, trong đó số đại biểu HĐND được tăng lên. Thường trực HĐND cấp tỉnh theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 chỉ có 3 thành viên, gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên thường trực HĐND. Trong khi đó theo luật mới Thường trực HĐND được tăng lên 7 thành viên, nơi nào thành lập Ban dân tộc thì Thường trực HĐND là 8 thành viên. Trong đó 2 Phó Chủ tịch hoạt động chuyên trách. Số lượng thành viên các ban cũng được tăng lên. Theo luật năm 2003 mỗi ban chỉ bầu một phó ban, nay luật qui định cứng mỗi ban bầu 2 phó ban và 2 phó ban đều là đại biểu hoạt động chuyên trách. Ngoài ra còn nhiều nội dung khác nữa đòi hỏi Văn phòng HĐND phải đủ mạnh để làm tốt chức năng, nhiệm vụ của mình theo luật định.

       Một yếu tố khác không thể bỏ qua đó là con người, những công chức đang đảm nhiệm các chức danh Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và những người đã nằm trong qui hoạch các chức danh ấy sẽ giải quyết như thế nào, một khi Văn phòng HĐND không có cấp phòng.

     Cách đây 11 năm, ngày 9/6/2004 Chính phủ ban hành Nghị định số 133/2004/NĐ- CP qui định “Về việc thành lập và qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, biên chế của văn phòng HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương” đã qui định Văn phòng HĐND cấp tỉnh có Chánh Văn phòng, 1 – 2 Phó Chánh Văn phòng; văn phòng gồm có Phòng Tổng hợp và Phòng Hành chính – Quản trị.

     Với cơ cấu tổ chức Văn phòng HĐND cấp tỉnh theo Nghị định 133 là tương đối phù hợp, có khả năng phục vụ hoạt động của HĐND. Nay đã có luật mới, điều kiện phục vụ mọi hoạt động của HĐND cũng cần được đổi mới, trong đó có Văn phòng HĐND cấp tỉnh. Vì vậy, cấp phòng trong Văn phòng HĐND cấp tỉnh không chỉ hai phòng như Nghị định 133 mà cần có ít nhất ba đến bốn phòng trực thuộc.

 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK