GIỚI THIỆU VỀ NGHỊ QUYẾT BAN HÀNH NỘI QUY KỲ HỌP QUỐC HỘI
Cập nhật : 9:50 - 11/01/2016

 

Ngày 24/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam khóa XIII đã thông qua Nghị quyết ban hành Nội quy kỳ họp Quốc hội (thay thế Nội quy kỳ họp Quốc hội năm 2002). Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. Ngày 8/12/2015, Chủ tịch nước đã ký lệnh số 19/2015/L- CTN về việc công bố Nghị quyết.

Nội quy kỳ họp Quốc hội năm 2015 bao gồm 3 chương với 56 điều. Bên cạnh việc kế thừa những quy định còn phù hợp của Nội quy kỳ họp Quốc hội năm 2002, Nội quy năm 2005 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định để phù hợp với các quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội và nhiều đạo luật khác để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, khắc phục những hạn chế, bất cập của quy định hiện hành và ghi nhận những đổi mới, cải tiến về công tác chuẩn bị, tiến hành kỳ họp, về quy trình, thủ tục thực hiện xem xét, quyết định các nội dung tại kỳ họp đã được thực tiễn kiểm nghiệm chứng minh là đúng đắn và phù hợp để bảo đảm tính pháp lý.

1. Phạm vi điều chỉnh của Nội quy kỳ họp Quốc hội

Phạm vi điều chỉnh của Nội quy kỳ họp Quốc hội là quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục tiến hành kỳ họp Quốc hội, trong đó bao gồm cả quy định về thẩm quyền của các chủ thể tiến hành ở từng khâu của mỗi quy trình, các vấn đề kỷ cương, kỷ luật kỳ họp,… Tuy nhiên, Nội quy không phải văn bản duy nhất quy định về các nguyên tắc, trình tự, thủ tục tại kỳ họp Quốc hội, một số văn bản khác[1] đã quy định khá đầy đủ quy trình, thủ tục Quốc hội xem xét, quyết định về luật, nghị quyết, giám sát. Vì vậy, Nội quy kỳ họp chỉ quy định các quy trình, thủ tục chưa được quy định; đồng thời, dành 1 điều (Điều 56) quy định dẫn chiếu các luật, nghị quyết có liêu quan.

2. Những nội dung cơ bản của Nội quy kỳ họp Quốc hội

(1) Những quy định chung

So với Nội quy năm 2002, Nội quy mới bổ sung quy định về phiên họp trù bị của Quốc hội tại kỳ họp để khẳng định tính pháp lý của phiên họp trù bị; quy định cụ thể thời điểm khai mạc các kỳ họp thường lệ của Quốc hội (khai mạc kỳ họp đầu năm vào ngày 20-5, kỳ họp cuối năm vào ngày 20-10, nếu trùng vào thứ sáu của tuần hoặc ngày nghỉ theo quy định của pháp luật thì được chuyển sang ngày làm việc tiếp theo); bổ sung quy trình xem xét, thông qua chương trình kỳ họp, quy trình sửa đổi, bổ sung chương trình kỳ họp Quốc hội và quy định về nguyên tắc, thẩm quyền tiến hành tổng kết kỳ họp.

Về trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, Nội quy kế thừa quy định hiện hành, đồng thời bổ sung một số quy định về trách nhiệm của đại biểu Quốc hội khi vắng mặt tại kỳ họp, tại các phiên họp, khi trả lời phỏng vấn, cung cấp thông tin về kỳ họp, bảo quản và sử dụng tài liệu kỳ họp để bảo đảm thực hiện tốt hơn trách nhiệm của đại biểu tại kỳ họp.

Về người được mời, người dự thính kỳ họp Quốc hội, Nội quy sửa đổi quy định hiện hành cho phù hợp với quy định của Luật tổ chức Quốc hội trong đó quy định có tính nguyên tắc về người được mời, được dự thính kỳ họp; về việc công dân có thể tham dự các phiên họp công khai của Quốc hội và do Tổng thư ký Quốc hội tổ chức để bảo đảm quyền tham dự của công dân và trật tự của kỳ họp.

Về tài liệu phục vụ Quốc hội, Nội quy bổ sung quy định tài liệu chủ yếu lưu hành dưới dạng bản điện tử để tạo thuận lợi và tiết kiệm thời gian gửi, nhận tài liệu, giảm chi phí in, gửi; đồng thời góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử về kỳ họp Quốc hội.

Trong việc thông tin về kỳ họp Quốc hội, Nội quy quy định phiên khai mạc, phiên bế mạc, phiên chất vấn và trả lời chất vấn là các phiên họp được phát thanh, truyền hình trực tiếp; còn việc phát thanh, truyền hình trực tiếp các phiên họp khác sẽ do Quốc hội quyết định và ghi trong chương trình kỳ họp Quốc hội để góp phần bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động của Quốc hội, tạo điều kiện để cử tri, Nhân dân cả nước theo dõi, giám sát hoạt động của Quốc hội.

(2) Về các phiên họp tại kỳ họp Quốc hội

Nội quy quy định cụ thể hơn về nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tiến hành các phiên họp tại kỳ họp Quốc hội. Đây là các phiên họp được ghi rõ trong chương trình kỳ họp do Quốc hội thông qua, bao gồm: các phiên họp toàn thể của Quốc hội; các phiên họp Tổ đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội; các phiên họp do Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tổ chức thảo luận về nội dung trong chương trình kỳ họp. Các phiên họp tại kỳ họp Quốc hội được tiến hành công khai, trừ trường hợp Quốc hội quyết định họp kín. Kế thừa quy định hiện hành, Nội quy tiếp tục quy định và làm rõ hơn nguyên tắc, cách thức tổ chức phiên họp thảo luận tại Hội đồng dân tộc, các Ủy ban về nội dung trong chương trình kỳ họp Quốc hội để có thể thực hiện trên thực tế. Cụ thể, trường hợp xem xét, quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, là nội dung liên quan đến nhiều lĩnh vực do Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội phụ trách có thể được Quốc hội quyết định thảo luận tại Hội đồng, Ủy ban để việc thảo luận tập trung, chuyên sâu hơn.

Nội quy cũng sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của chủ tọa các phiên họp tại kỳ họp Quốc hội, có trách nhiệm điều hành phiên họp theo đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục quy định tại Nội quy kỳ họp Quốc hội và các quy định khác của pháp luật có liên quan; bảo đảm thực hiện đúng chương trình kỳ họp đã được Quốc hội thông qua. Tại phiên thảo luận toàn thể Quốc hội, Chủ tọa điều hành theo thứ tự đại biểu đăng ký, song tùy nội dung và tình hình thảo luận thực tế, như trường hợp cần mời các đại biểu là chuyên gia phát biểu để làm rõ hơn về vấn đề Quốc hội đang thảo luận, chủ tọa có thể mời đại biểu phát biểu không theo thứ tự đăng ký. Tại phiên chất vấn, chủ tọa có quyền kéo dài thời gian trả lời chất vấn so với quy định trong trường hợp cần thiết; có quyền nhắc trong trường hợp đại biểu Quốc hội nêu chất vấn không đúng nội dung phiên chất vấn hoặc quá thời gian quy định, người bị chất vấn trả lời không đúng trọng tâm chất vấn của đại biểu Quốc hội hoặc quá thời gian quy định.

Nội quy sửa đổi quy định về nguyên tắc thảo luận và thời gian phát biểu, chất vấn của đại biểu Quốc hội và trả lời chất vấn của người bị chất vấn tại phiên họp toàn thể. Đại biểu Quốc hội phát biểu tập trung về nội dung của phiên thảo luận; không phát biểu quá hai lần về cùng một nội dung. Thời gian phát biểu lần thứ nhất không quá 07 phút, lần thứ hai không quá 03 phút. Tại phiên họp chất vấn, mỗi lần chất vấn, đại biểu Quốc hội nêu chất vấn không quá 02 phút. Người bị chất vấn trả lời chất vấn của mỗi đại biểu không quá 05 phút.

 (3) Về xem xét, quyết định nhân sự và cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước

Nội quy bổ sung quy định về trình tự, thủ tục Quốc hội bầu Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng kiểm toán nhà nước, Tổng thư ký Quốc hội; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách Phó Chủ tịch và ủy viên Hội đồng bầu cử quốc gia; bổ sung quy định về trình tự, thủ tục Quốc hội quyết định cơ cấu tổ chức của Chính phủ và cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Quốc hội; sửa đổi quy định về trình tự, thủ tục Quốc hội thành lập, bãi bỏ cơ quan; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính…

Nội quy bổ sung quy định về thủ tục tuyên thệ ngay sau khi được bầu đối với Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Ngoài việc tuyên thệ trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp, người tuyên thệ có quyền lựa chọn nội dung tuyên thệ phù hợp với trách nhiệm được giao. Người tuyên thệ phải đứng trước Quốc kỳ tuyên thệ. Thời gian tuyên thệ không quá 03 phút.

 (4) Về quyết định các vấn đề quan trọng

Nội quy sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự, thủ tục Quốc hội thông qua nghị quyết về các vấn đề quan trọng chưa được quy định trong các luật, nghị quyết khác bao gồm các nghị quyết về: kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, hằng năm; kế hoạch tài chính 5 năm và dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách trung ương, quyết toán ngân sách nhà nước hằng năm; kế hoạch đầu tư công trung hạn, hằng năm; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; chương trình mục tiêu quốc gia; dự án quan trọng quốc gia; quyết định đại xá, vấn đề chiến tranh và hòa bình, ngày bầu cử toàn quốc và bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội trong giữa nhiệm kỳ…).

(5) Về việc thực hiện nhiệm vụ của Tổng thư ký Quốc hội tại kỳ họp

Nội quy không quy định riêng về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng thư ký Quốc hội tại kỳ họp, mà cụ thể trong các quy định liên quan đến nguyên tắc, thẩm quyền, quy trình, thủ tục của từng nội dung được tiến hành tại kỳ họp Quốc hội. Trong việc thông tin, tuyên truyền về kỳ họp, Tổng thư ký Quốc hội có trách nhiệm tổ chức cung cấp thông tin về chương trình, nội dung của kỳ họp Quốc hội, hoạt động của Quốc hội tại kỳ họp theo quy định của pháp luật; tổ chức họp báo về kỳ họp trước phiên khai mạc, sau phiên bế mạc kỳ họp Quốc hội và trong trường hợp cần thiết khác; quyết định thông tin, tài liệu kỳ họp được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội. Trong việc đề nghị tài liệu kỳ họp, Tổng thư ký Quốc hội trình Chủ tịch Quốc hội quyết định tài liệu chính thức, hình thức lưu hành tài liệu chính thức. Trong việc tổng hợp, tập hợp ý kiến đại biểu Quốc hội, Tổng thư ký Quốc hội chủ trì, phối hợp với Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội, cơ quan hữu quan tập hợp, tổng hợp trung thực, đầy đủ ý kiến của đại biểu Quốc hội.



[1] Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Nghị quyết về lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội và Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn,…

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK