Mong đợi từ xã hội đối với Hội đồng nhân dân trong việc bảo vệ quyền trẻ em
Cập nhật : 17:19 - 05/06/2014

I.          Hoạt động của HĐND liên quan đến vấn đề trẻ em

Hiện nay, chúng ta đang bàn nhiều về một chủ đề rất có ý nghĩa nhưng lại là vấn đề cuối cùng và dường như bị lép vế nhất từ trước tới nay trong xã hội, đó là trẻ em. Chúng ta vẫn nói rất nhiều đến vai trò, ý nghĩa của thế hệ mầm non, của những người kế tục sự nghiệp, của nguồn nhân lực tương lai. Tuy nhiên, nếu nhìn lại cả một hệ thống biện pháp chăm lo cho trẻ em, chúng ta sẽ thấy còn rất nhiều bất cập so với các lĩnh vực khác, kể cả trong giáo dục, y tế, văn hóa tinh thần, bảo vệ trẻ em…

Ví dụ gần đây nhất là dịch sởi vừa mới bùng phát tại Hà Nội. Trên thực tế, chúng ta đã tuyên bố xóa bỏ bệnh sởi, tuy nhiên thời gian qua, bệnh sởi đã quay lại và diễn biến nghiêm trọng hơn, rất nhiều em mắc sởi, nhiều đến nỗi bệnh viện không đáp ứng đủ giường bệnh cho trẻ em. Trong khi chúng ta vẫn luôn nêu cao thành tích phát triển kinh tế - xã hội, năm nào cũng có tăng trưởng, tăng thu nhập… tuy nhiên lại chưa chú ý thích đáng đến các chính sách, đầu tư nguồn lực để xây dựng, nâng cấp đủ bệnh viện, đủ giường bệnh cho trẻ em.

Cho đến nay, chưa có tài liệu chính thức nào của về tình hình trẻ em, tuy nhiên theo điều tra, khảo sát của Unicef, phối hợp với Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, Bộ Kế hoạch – Đầu tư, với cách tính mới, con số “nghèo trẻ em” của Việt Nam - không chỉ nghèo về tiền tệ, đất đai, thu nhập… mà còn tính tới các yếu tố khác không kém phần quan trọng là giáo dục, sức khỏe, nhà ở, nước sạch, điều kiện vui chơi giải trí … - là hơn 7 triệu trên tổng số 8,2 triệu trẻ em Việt Nam. Lâu nay chúng ta chỉ công bố có khoảng 2,4-2,5 triệu trẻ em trong diện nghèo. Tuy nhiên, với phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều như trên, con số thực tế là cao hơn nhiều.

Nói như vậy để những người có trách nhiệm với trẻ em có thể nhận thấy những mặt trái, những khiếm khuyết ở đâu, từ đó tập trung các biện pháp giải quyết, với mục đích cuối cùng là Việt Nam có thể xứng đáng là một nước không chỉ phát triển về kinh tế mà còn chăm lo, phát triển nguồn nhân lực và con người. Chúng ta không chỉ nhìn về mặt tốt mà còn phải nhận thức được những thiếu hụt, những điểm hạn chế; ví dụ như, Việt Nam đã phổ cập giáo dục tiểu học, nhưng rất nhiều em miền núi tuy đã học lớp 5 nhưng vẫn chưa đọc thông viết thạo..

Với HĐND chúng tôi mong muốn các đại biểu nhận thức rõ được tình hình trẻ em hiện nay đang cần đặc biệt quan tâm. Chúng ta không nên nhìn phiến diện vấn đề, mà phải nhìn thấy thực tế khó khăn liên quan đến chính sách đối với trẻ em. Và từ thực tiễn đó, HĐND trong thời gian qua đã làm được những gì? Vai trò của HĐND đã đóng góp như thế nào?

Thứ nhất, hiện nay, HĐND đã có nhiều quyết định, ban hành nhiều chính sách, nghị quyết liên quan đến việc phân bổ tỷ lệ ngân sách, nguồn lực cho các mục tiêu của trẻ em. Điển hình như các tỉnh/TP: Quảng Ninh, TP. Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Kon Tum và ngày càng có nhiều tỉnh quan tâm đến vấn đề trẻ em.

Thứ hai, Ban Văn hóa – Xã hội của HĐND tỉnh bao giờ cũng rất quan tâm, hỗ trợ đến các trẻ em có điều kiện khó khăn, bằng nhiều hình thức như trao học bổng, tặng quà, thăm hỏi…

Thứ ba, nhiều tỉnh cũng đã tổ đã tổ chức các cuộc giám sát chuyên đề về trẻ em.

Tóm lại, tuy còn nhiều điều chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, nhưng hoạt động của HĐND luôn là một kênh rất quan trọng, quan tâm đến vấn đề trẻ em, thúc đẩy thực hiện sự nghiệp trẻ em ở địa phương.

II.         Hoạt động của các tổ chức xã hội tham gia cùng HĐND để thúc đẩy thực hiện quyền trẻ em

Đối với các tổ chức xã hội, trong những năm gần đây, cũng đã có rất nhiều hoạt động quan tâm đến thúc đẩy quyền trẻ em.

Ở cấp độ Quốc hội, đặc biệt là các Ủy ban liên quan đến trẻ em như, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng; Uỷ ban về các vấn đề xã hội, Ủy ban Pháp luật, Viện Nghiên cứu lập pháp, Ban Công tác đại biểu, khi tổ chức những hội thảo, hội nghị liên quan đến đánh giá tình hình trẻ em, giám sát kết quả về tình hình bạo hành trẻ em, xây dựng các điểm văn hóa vui chơi cho trẻ em, đề phòng tai nạn thương tích trẻ em, bảo vệ trẻ em… đều mời đại diện của Hội Bảo vệ quyền trẻ em và các tổ chức xã hội khác đến để có những ý kiến phản biện lại những báo cáo, kết quả mà các cơ quan đã tiến hành, đã thực hiện. Những buổi giải trình của Chính phủ về vấn đề văn hóa, lao động trẻ em cũng mời đại diện các tổ chức xã hội tham dự.

Những hoạt động này rất có ý nghĩa trong việc nâng cao vai trò của các tổ chức xã hội và đồng thời cũng thúc đẩy trách nhiệm của xã hội đối với vấn đề trẻ em. Các tổ chức xã hội phải làm gì để có tiếng nói độc lập, có chính kiến riêng của mình về tình hình trẻ em.

Ở cấp độ HĐND, Bắc Giang là một tỉnh thuận lợi trong sự phối hợp giữa HĐND với các tổ chức xã hội bảo vệ quyền trẻ em: mời tham dự các phiên họp của HĐND, nghe ý kiến đề xuất về những vấn đề bức xúc của trẻ em. Ở Bắc Giang, có những xã 80% hộ gia đình có cha/mẹ đi lao động nước ngoài nên sao lãng trong việc chăm lo đến trẻ em, vấn đề khai sinh cho trẻ em bế tắc rất nhiều. Với tình hình đó, Hội Bảo vệ quyền trẻ em đã đề xuất với HĐND tỉnh cần đi giám sát về vấn đề này. Chính quyền của huyện này báo cáo chỉ có 4-5 trường hợp chưa khai sinh được, nhưng đến lúc về giám sát cùng với tư pháp và Hội Bảo vệ quyền trẻ em, đã phát hiện riêng một xã đã có hơn 20 trường hợp chưa được khai sinh. Điều này chứng tỏ, nhờ việc tham gia và đề xuất kiến nghị của tổ chức xã hội đã giúp phát hiện ra những vấn đề bức xúc của trẻ em. Ngoài ra, cũng thông qua hoạt động giám sát đã phát hiện ra là ngay đến cán bộ tư pháp của xã cũng không nắm rõ được pháp luật về trẻ em (không cần có đủ cả bố và mẹ mới khai sinh được cho con) nên không thực hiện, không bảo vệ được quyền trẻ em. Trong hoạt động này, HĐND đã phát huy được vai trò trong việc bảo vệ quyền trẻ em, mang lại lợi ích cho trẻ em và chính nhờ vậy đã có tác động trở lại với HĐND, làm cho HĐND có những quyết định phù hợp với thực tiễn, rất thiết thực, được nhân dân hoan nghênh.

Trong tình hình hiện nay, khi những vấn đề cũ chưa giải quyết hết thì những vấn đề mới lại nảy sinh. Điển hình là vấn đề bạo hành trẻ em. Không chỉ là bạo hành người lớn với trẻ em mà còn là trẻ em với trẻ em. Đây là vấn đề chưa có biện pháp giải quyết. Tình trạng ức hiếp, bóc lột giữa trẻ em với nhau diễn ra phổ biến, thường xuyên liên tục không trường học nào không có. Ngay cả ở những lớp tiên tiến của một trường thực nghiệm điển hình, hiện đại cũng có tình trạng này. Hãy đặt trường hợp mình vào một trẻ ngày nào đến lớp cũng bị bắt nạt, chèn ép, trấn lột thì tinh thần sẽ ảnh hưởng như thế nào?

Hiếp dâm trẻ em cũng đang là vấn đề nổi lên đáng quan tâm. Hiện nay, hiếp dâm trẻ em không chỉ là do những người xa lạ hay qua giao dịch buôn bán. Qua điều tra của Hội Bảo vệ quyền trẻ em với 30-40 hộ gia đình tại TP HCM và Hà Nội, hơn một nửa trường hợp là hiếp dâm/lạm dụng tình dục trong gia đình với nhau, thậm chí là bố đẻ với con. Đây vẫn còn là một vấn đề chìm trong các gia đình mà chúng ta chưa thấy hết được.

Bệnh tự kỷ, rối loạn tâm lý của trẻ em hiện nay đang phát triển mạnh, nhưng lại bị gia đình giấu diếm do cha mẹ xấu hổ, vì vậy để các em ở nhà tự âm thầm phát triển, không đến trường học và con số này lên đến hàng trăm nghìn trẻ em.

Trong lúc đó, hệ thống bảo vệ quyền trẻ em đã bị giải thể còn chưa được khôi phục lại và không có nhiều bộ máy chuyên trách đầy đủ để chăm lo, phát hiện những vấn đề về trẻ em. Năng lực và số lượng nhân lực của bộ máy đó hiện nay đang thiếu, mâu thuẫn với tình hình bức xúc đang đặt ra. Trong vấn đề bảo vệ trẻ em hiện nay, để theo dõi hết được mười đối tượng trẻ em cần bảo vệ, cần rất nhiều nhân lực. (Mười đối tượng trẻ em cần được bảo vệ gồm: trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ lang thang, trẻ khuyết tật, trẻ em đường phố, trẻ em phải làm việc nặng nhọc, trẻ nghiện ma túy, trẻ vi phạm pháp luật, trẻ bị nhiễm HIV, trẻ bị xâm hại tình dục trái pháp luật, trẻ bị bạo hành, trẻ tự kỷ, trẻ em bị buôn bán… có rất nhiều trẻ em thuộc đối tượng này mà bộ máy hiện nay không thể theo dõi hết). Những con số trong các bản báo cáo nhiều lúc không phản ánh đúng sự thật, bởi vì không có đủ lực lượng để theo dõi và thống kê hết được con số cụ thể, chính xác.

III.       Mong muốn của các tổ chức xã hội (đặc biệt là Hội Bảo vệ quyền trẻ em), những đề xuất kiến nghị với HĐND trong các hoạt động về trẻ em

Từ những tình hình đặt ra như trên, mong muốn của các tổ chức xã hội với HĐND là rất lớn. Về bộ máy chính quyền, trong hoàn cảnh các cơ quan chuyên trách về trẻ em của nhà nước có những hạn chế thì các tổ chức xã hội đang phát triển hơn bao giờ hết. Hiện nay, theo khảo sát sơ bộ của Hội Bảo vệ quyền trẻ em, trên cở sở của Bộ Nội vụ và các tổ chức, tính đến năm 2012, tại Việt Nam có khoảng hơn 460 Hội cấp quốc gia, hơn 2.912 hội hoạt động trong phạm vi cấp tỉnh, hơn 28.372 hội cấp cơ sở. Chuyên biệt về trẻ em cũng có đến 7 hội là: Hội Bảo vệ quyền trẻ em, Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi, Hội Cứu trợ người tàn tật, Hội Nhi khoa, Hội Nhi khoa chỉnh hình, Hội Phẫu thuật nhi, Hội Khuyến học, với mạng lưới khoảng 135 tổ chức tới các địa phương.

Lực lượng này có vai trò rất lớn trong việc phát hiện tình hình, đưa ra những vấn đề bức xúc về trẻ em. Nếu hệ thống các cơ quan của nhà nước thường báo cáo thành tích và những việc đã làm được thì hệ thống các tổ chức xã hội thường có chức năng phát hiện những việc còn khiếm khuyết, chưa làm được về chính sách cũng như những bức xúc về tình hình trẻ em. Vai trò của các tổ chức xã hội này cũng rất lớn trong việc lên phản biện lại chủ trương của nhà nước về vấn đề trẻ em.

Chính vì vậy, trong tình hình mới hiện nay, những mong muốn của các tổ chức xã hội là rất cụ thể:

1.   Mong muốn HĐND với các chức năng: đại diện, quyết định, giám sát, làm sao có được sự hiểu biết về tình hình trẻ em, phối hợp với các tổ chức xã hội để có được sự cập nhật thường xuyên về số liệu, tình hình trẻ em.

HĐND là một cơ quan rất bận rộn với nhiều công việc, trong khi đó, trẻ em chỉ là một vấn đề nhỏ. Vì vậy, trước hết, HĐND cần biết được tình hình, biết được nhu cầu của trẻ em và hiểu rõ các luật, chính sách liên quan đến trẻ em để từ đó có được sự nhạy bén trong khi xem xét tình hình và đề xuất, đưa ra chính sách của HĐND. Trong hệ thống pháp luật về trẻ em, quan trọng và điển hình nhất là Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em. Đây là một công ước rất lý tưởng, vô cùng chi tiết và cụ thể về cách xử lý đối với các loại quyền trẻ em, đặc biệt là bảo vệ trẻ em. Riêng nguyên tắc “tư pháp vị thành niên” cũng rất dài với rất nhiều điều khoản, mà để quán triệt được nó, để xây dựng được một bộ máy thân thiện với trẻ em trong giải quyết tư pháp vị thành niên thì cũng cần sự nghiên cứu tìm hiểu rất nhiều.

2.   Mong muốn HĐND hàng năm có được một quyết định ngân sách có khả năng đáp ứng được những nhu cầu bức xức nhất của trẻ em hoặc những mục tiêu khó khăn nhất của địa phương. Mỗi địa phương đều có nhiều mục tiêu phát triển, nhưng mục tiêu nào là mục tiêu khó đạt nhất của địa phương thì cố gắng ưu tiên cho vấn đề đó để xây dựng ngân sách, bảo đảm ưu tiên cho mục tiêu đó. Ví dụ như: bệnh viện trẻ em, các trường mầm non, chính sách bảo vệ trẻ em.

Đồng thời với việc ưu tiên trong các quyết định về trẻ em hàng năm, các tổ chức xã hội cũng mong muốn HĐND quan tâm đến vấn đề gia đình, chính sách đối với gia đình. Bởi vì trẻ em và gia đình là hai vấn đề gắn liền với nhau, nhiều hiện tượng tiêu cực của trẻ em là từ gia đình, từ sự sao lãng, thiếu trách nhiệm, thiếu kiến thức của gia đình. Vì vậy, HĐND và các đại biểu HĐND cũng nên suy nghĩ các chính sách đối với gia đình.

Chính sách của chúng ta hiện nay chưa phù hợp với thực tế, nếu cứ đem tiền cho sẽ tạo ra sự ỷ lại. Theo kinh nghiệm của các nước châu Âu, khi ban hành một chính sách gia đình luôn tính đến nghĩa vụ của gia đình đối với trẻ em. Ví dụ: nếu gia đình có con nhỏ thì không phát tiền trợ cấp mà chuyển số tiền đó cho hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo và nếu gia đình đưa con em đến nhà trẻ, trường học thì mới được hưởng lợi ích từ chính sách đó. Đối với bảo vệ trẻ em cũng vậy, nếu gia đình thực hiện đúng các chính sách bảo vệ, đưa con đến các địa điểm y tế để khám, tư vấn và chữa bệnh thì mới nhận được sự hỗ trợ.

3. Mong muốn HĐND hãy coi các tổ chức xã hội và Hội Bảo vệ quyền trẻ em là một kênh thông tin, là cánh tay phải của HĐND đối với vấn đề trẻ em. Rất tiếc là hiện nay hệ thống Hội Bảo vệ quyền trẻ em chưa phát triển nhiều nhưng hi vọng sẽ sớm hoàn thiện hơn trong tương lai gần. Ở những địa phương đã có hệ thống này, hi vọng HĐND xây dựng được cơ chế phối hợp và tạo cơ hội cho các tổ chức xã hội đó tham dự vào các cuộc họp liên quan đến trẻ em, tham gia bàn quyết sách liên quan đến trẻ em hoặc mời đi giám sát về các vấn đề trẻ em, lắng nghe các tổ chức xã hội phản ánh các tình hình đó.

4. Mong muốn HĐND cùng với Hội Bảo vệ quyền trẻ em và các tổ chức xã hội sẽ có tiếng nói mạnh mẽ với một số vấn đề đang đặt ra bức xúc đối với trẻ em. Ví dụ như HĐND có thể tổ chức các cuộc giám sát chuyên đề riêng về vấn đề hiếp dâm, bạo hành trẻ em....

Hiện nay, Hội Bảo vệ quyền trẻ em đang kiến nghị một số vấn đề với Quốc hội nhân dịp sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Đối với Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội Bảo vệ quyền trẻ em đã đưa ra các kiến nghị sau:

- Trong thành phần được yêu cầu Tòa án, ngoài 4 thành phần đã có trong Luật, đề nghị thêm thành phần là Hội Bảo vệ quyền trẻ em.

- Trong Nguyên tắc xử lý tài sản, phân chia tài sản khi ly hôn, đề nghị trước khi chia tài sản chung cho 2 người, cần khấu trừ ra một khoản kinh phí để chi cho việc nuôi dưỡng con. Bởi vì thực tế hiện nay, nhiều trường hợp đã ly hôn không thực hiện nghĩa vụ với con và đứa con không có chỗ dựa, không có ai chăm sóc.

- Đề nghị hạ độ tuổi hỏi ý kiến trẻ em. Luật hiện nay quy định trẻ em từ 9 tuổi trở lên sẽ được hỏi nguyện vọng ở với ai khi bố mẹ ly hôn, tuy nhiên hiện nay với trình độ phát triển hơn, các em từ 6 tuổi –vào lớp 1- đã có đủ nhận thức và tình cảm để quyết định về vấn đề này.

Đối với Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Hội Bảo vệ quyền trẻ em cũng có những công trình nghiên cứu và có những kiến nghị như: thay định nghĩa về trẻ em, nâng độ tuổi trẻ em: trẻ em không chỉ dưới 16 mà từ 16-18 tuổi, như vậy đối tượng trẻ em trong khoảng tuổi từ 16-18 cũng được nằm trong diện bảo vệ.

Hội Bảo vệ quyền trẻ em rất mong muốn những kiến nghị, ý kiến về những bức xúc, những vấn đề mới đặt ra cho trẻ em được HĐND nghiêm túc nghiên cứu và nếu được đồng tình thì cùng góp tiếng nói với Quốc hội để tham gia giải quyết vấn đề.

5. Mong muốn HĐND tạo điều kiện cho Hội Bảo vệ quyền trẻ em có cơ chế cùng tham gia hoạt động thường xuyên để phản ánh, phát biểu, tham gia giám sát cùng với ĐBQH, ĐB HĐND về các vấn đề liên quan đến trẻ em của các địa phương.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK