Chia sẻ thực tiễn triển khai vai trò giám sát của HĐND tỉnh Nam Định trong việc bảo vệ quyền trẻ em
Cập nhật : 16:49 - 05/06/2014

I. Khái quát tình hình chung của tỉnh Nam Định

1. Khái quát về tình hình xã hội của tỉnh:

Nam Định là một tỉnh “đất chật người đông” với dân số là 1.840.000 người trên tổng diện tích 1.600 km2. Đây vừa là khó khăn, nhưng cũng có những điểm thuận lợi trong công tác xã hội. Thuận lợi ở đây chính là Nam Định là một tỉnh đồng bằng, diện tích nhỏ và gọn; mặt bằng dân số khá tốt so với nhiều tỉnh miền núi. Nam Định có 80,5% dân số sống ở nông thôn (chứ không phải làm nông nghiệp vì có rất nhiều người đã ly nông hoặc đi làm ở các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Nam Định và các tỉnh khác trên cả nước). Trẻ em từ 0-16 tuổi của Nam Định vào khoảng 510.140 người (chiếm 25,5%dân số).

2. Về kết quả thực hiện các quyền của trẻ em:

Nam Định là một tỉnh thực hiện tương đối tốt việc bảo vệ quyền trẻ em, cụ thể là:

Số trẻ em được khai sinh đúng độ tuổi đạt 99,9%; phổ cập giáo dục ở cả 3 cấp học: mầm non 5 tuổi, tiểu học và trung học cơ sở ở mức cao: mức 2; 100% trẻ dưới 6 tuổi được cấp thẻ Bảo hiểm y tế miễn phí; các hoạt động văn hóa thể thao của trẻ em được tổ chức thường xuyên, thông qua các trường học và Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh; Quỹ bảo trợ trẻ em được duy trì ổn định, hoạt động đều hàng năm đều có tăng trưởng.

3. Những khó khăn bất cập trong vấn đề trẻ em:

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, tỉnh Nam Định còn tồn tại nhiều khó khăn, bất cập trong vấn đề trẻ em. Cụ thể, trong năm 2013 tỉnh Nam Định còn có: 6.785 trẻ có hoàn cảnh đặc biệt chiếm (chiếm 1,3% tổng số trẻ em); 12.304 trẻ sống trong gia đình có vấn đề xã hội, ví dụ có bố hoặc mẹ nghiện hút hoặc đang chấp hành án…; 17.595 trẻ em sống trong gia đình nghèo (theo tiểu chuẩn nghèo đa chiều); 591 trẻ em lao động trong điều kiện nặng nhọc, nguy hiểm, đặc biệt là lao động trong các làng nghề; 2.907 trẻ làm việc xa gia đình, chủ yếu là đi giúp việc cho các tổ hợp xây dựng hoặc đi đánh giày, làm thuê ở các thành phố, trung tâm lớn; 4.702 trẻ em bỏ học khi chưa học xong trung học cơ sở (Mặc dù Nam Định là tỉnh có truyền thống học tập và giáo dục, tuy nhiên, qua khảo sát, nghiên cứu, số trẻ em bỏ học vẫn còn khá cao); 457 trẻ em bị tai nạn thương tích trong năm; 29 em tử vong do đuối nước; 7.472 trẻ không sống với bố, mẹ từ 6 tháng trở lên, nguyên nhân là do bố mẹ đi làm ăn xa, phải gửi con cho ông bà trông nom, vì vậy điều kiện chăm sóc cũng bị thiếu hụt.

4. Những khó khăn về mặt xã hội:

Ở Nam Định, án li hôn chiếm tỷ lệ khá cao: 78% các vụ án về dân sự (1.596/2.045 vụ), theo đó, có hàng nghìn trẻ em bị ảnh hưởng trực tiếp từ các vụ ly hôn này.

Hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em còn quá mỏng: cả tỉnh chỉ có 4 cơ sở (trong đó công lập 3 là các trung tâm bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và 1 cơ sở tư nhân 1).

Các Nhà Văn hoá thanh, thiếu nhi hoạt động khó khăn trong cơ chế mới; vùng nông thôn thiếu khu vui chơi, giải trí của trẻ em. Trước đây, khi chưa chuyển sang cơ chế thị trường, tỉnh Nam Định có 4 nhà văn hóa cấp huyện trên 10 đơn vị huyện/thành phố. Nhưng đến nay chỉ còn 01 Nhà văn hóa thiếu nhi của tỉnh và 1 của thành phố Nam Định là còn hoạt động, 3 nhà Văn hóa thiếu nhi cấp huyện coi như bị xóa sổ. Tuy nhiên, hoạt động của 2 nhà văn hóa này cũng rất khó khăn, bởi vì khi đã khoán cơ chế hành chính sự nghiệp cho các đơn vị này, các đơn vị này phải tìm cách nuôi quân, tìm cách tổ chức hoạt động nên các hoạt động hướng đến trẻ em cũng mỏng hơn rất nhiều, hiệu quả cũng thấp hơn.

5. Nguyên nhân của những khó khăn trong các hoạt động về trẻ em:

Trong nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân cấp uỷ Đảng, chính quyền nhiều nơi chưa chú trọng công tác chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em. Nhiều gia đình, nhận thức về nuôi, dạy con chưa đúng, mặt khác, nhiều cha mẹ bận làm ăn, không quan tâm thường xuyên đến các em.

Mặc dù về mặt lý luận, chúng ta vẫn nói phải đảm bảo hài hòa giữa 3 môi trường giáo dục, nhưng thực tế, chưa có sự hài hoà giữa 3 môi trường: gia đình – nhà trường – xã hội. Chúng tôi nhận thấy, nhiều gia đình chỉ chú ý đến “nuôi”, việc “dạy” dồn cho nhà trường, nhưng nhà trường lại chỉ thiên về “dạy chữ” chứ không nặng về “dạy người”. Còn xã hội có tác động mạnh, nhưng lại là tác động đa chiều, không có định hướng. Đây là một việc đáng báo động đối với việc giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em.

Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và là nước thứ 2 trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em, tuy nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội chưa đáp ứng yêu cầu công tác chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em. Ở các nước, việc phê chuẩn Công ước dựa trên cơ sở họ đảm bảo thực hiện được, còn Việt Nam phê chuẩn với mục đích là phấn đấu để đạt được, vì vậy,  còn rất nhiều việc mà chúng ta phải làm.

        Ngay trong các văn bản luật hiện nay quy định về quyền trẻ em cũng có nhiều vấn đề mà điều kiện kinh tế - xã hội chưa đáp ứng được. Trong đó, trách nhiệm giám sát, quyết định các vấn đề của Hội đồng nhân dân có liên quan đến quyền trẻ em, có rất nhiều việc muốn nhưng chưa làm được do điều kiện kinh tế - xã hội chưa đảm bảo.

 

II. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Nam Định

1. Giám sát thường xuyên của đại biểu Hội đồng nhân dân

- Tiếp xúc cử tri, lắng nghe ý kiến của nhân dân.

- Giám sát các cơ quan, các tổ chức có trách nhiệm liên quan.

- Tiếp nhận đơn thư, khiếu nại, tố cáo và yêu cầu cơ quan chức năng giải quyết những vấn đề bức xúc mà người dân phản ánh.

2. Giám sát chuyên đề của Hội đồng nhân dân

Trong 5 năm gần đây, Ban Văn hóa – Xã hội của Hội đồng nhân dân tỉnh Nam Định đã triển khai các hoạt động giám sát chuyên đề sau:

- Khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi; 

- Thực hiện chính sách đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em;

- Khảo sát về thực trạng giáo dục mầm non;

- Đầu tư, xây dựng, quản lý và sử dụng các cơ sở vui chơi giải trí cho trẻ em;

- Thực hiện pháp luật về phòng chống bạo lực, xâm hại trẻ em.

Những hoạt động giám sát chuyên đề nêu trên đều đạt được những hiệu quả nhất định và qua giám sát đều có báo cáo kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân và các cơ quản quản lý có những giải pháp cụ thể. Tuy nhiên giám sát việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát là việc khó thực hiện, cần tiếp tục đẩy mạnh.

3. Giám sát tại kỳ họp Hội đồng nhân dân

- Thẩm tra các báo cáo trình tại kỳ họp.

- Khảo sát, đánh giá kết quả hoạt động của các ngành liên quan.

- Chất vấn nếu thấy có vấn đề cần làm rõ.

        Liên quan đến vấn đề trẻ em, giám sát tại kỳ họp không chỉ là vấn đề của Ban Văn hóa – xã hội mà các Ban khác của Hội đồng nhân dân cũng rất chú ý đến vấn đề này. Ví dụ, Ban Pháp chế bao giờ cũng chất vấn về tình hình các vụ vi phạm pháp luật liên quan đến trẻ em, vị thành niên tăng hay giảm, lý do tại sao. Ban Kinh tế - Ngân sách lại thường quan đến các vấn đề như: đầu tư cho giáo dục là bao nhiêu, có đảm bảo theo quy định của Luật Ngân sách không, tỉnh có hỗ trợ thêm gì không, có quan tâm đến các hoạt động xã hội khác như đầu tư của Đoàn Thanh niên cho các hoạt động liên quan đến trẻ em, các hoạt động Đội Thiếu niên trong các nhà trường…

        Đặc biệt, trong phiên chất vấn của bất kỳ kỳ họp Hội đồng nhân dân nào cũng có các chất vấn liên quan đến trẻ em, song chủ yếu là trong lĩnh vực giáo dục (còn dạy thêm học thêm trái quy định không, giải pháp như thế nào?) còn các lĩnh vực khác liên quan đến trẻ em thì chưa được quan tâm nhiều.

4. Những khó khăn, hạn chế trong hoạt động giám sát về quyền trẻ em của Hội đồng nhân dân tỉnh Nam Định

Trong thực tế, chúng ta đều biết, nhận thức của xã hội, của đại biểu Hội đồng nhân dân về quyền trẻ em chưa nhất quán. Ví dụ như vấn đề bạo hành trẻ em, đối với văn hóa của người châu Á thì phải “yêu cho roi cho vọt”.

Đại biểu Hội đồng nhân dân cơ bản là kiêm nhiệm, có ít thời gian dành cho hoạt động giám sát. Đây cũng là hạn chế tương đối lớn.

Các quy định pháp luật liên quan đến quyền trẻ em hiện nay chưa đồng bộ; nhiều văn bản luật liên quan đến quyền trẻ em nên không có tính hệ thống, dẫn đến khó biết nên khó giám sát. Ví dụ liên quan đến quyền khám chữa bệnh được quy định trong Luật Bảo hiểm y tế và rải rác trong các luật khác. Hiện nay chưa có một đề tài, công trình nghiên cứu nào tổng hợp xem 4 nhóm quyền trẻ em được quy định trong những luật, văn bản quy phạm pháp luật nào, khi cần có thể tra cứu ở đâu? Nếu có thì việc tuyên truyền cũng chưa được rộng rãi, phổ biến.

Các chế tài, thủ tục tố tụng liên quan đến quyền trẻ em không rõ. Chẳng hạn, vấn đề bạo hành trẻ em đang ngày càng gia tăng, nhưng khi có một vụ về bạo hành trẻ em thì việc xử lý, trình tự tố tụng, cơ quan nào chịu trách nhiệm chính chưa được quy định mạch lạc.

Nói chung, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân chưa được quy định rõ về thẩm quyền, trách nhiệm, cơ chế thực hiện, xử lý sau giám sát. Trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 cũng như trong Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành đều có đề cập về vấn đề này, nhưng chỉ mang tính chất điểm mục, định hướng, còn những vấn đề cụ thể bên trong như thẩm quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ liên quan, trình tự theo quy định của luật thì lại không rõ. Vì vậy, Hội đồng nhân dân các tỉnh đều mong muốn Quốc hội sớm ban hành Luật Giám sát của Hội đồng nhân dân.

 

III. Kiến nghị

1. Sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cho phù hợp với tình hình mới và nếu có thể thì nên quy định càng cụ thể càng tốt.

  - Nên đổi tên luật ngắn gọn thành Luật Trẻ em, để tránh sự tránh luận về câu chữ trước của các từ “bảo vệ”, “chăm sóc”, “giáo dục”…

  - Thống nhất về khái niệm cũng như quy định về độ tuổi phù hợp với Công ước quốc tế.  Hiện nay luật của Việt Nam quy định trẻ em là từ 0-16 tuổi, nhưng Công ước quốc tế lại quy định “trẻ em là những người từ mới sinh đến dưới 18 tuổi”, vì vậy có rất nhiều thống kê xã hội do lệch về khái niệm nên con số rất khác nhau.

  - Quy định rõ hơn về trách nhiệm và chế tài xử lý vi phạm.

2. Cần ban hành Luật Giám sát của Hội đồng nhân dân để quy định rõ thẩm quyền, trình tự, trách nhiệm của các tổ chức liên quan, cơ chế, hình thức xử lý, thực hiện kiến nghị qua giám sát.

 3. Tăng cường đại biểu chuyên trách cho Hội đồng nhân dân để có nhân lực thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, trong đó có bảo vệ quyền trẻ em.

Hiện nay tỷ lệ đại biểu chuyên trách của Quốc hội đã tăng lên, đạt được trên 30%, nhưng càng xuống địa phương thì tỷ lệ đại biểu chuyên trách càng giảm. Ở các tỉnh, đại biểu chuyên trách chỉ chiếm 10-15%, thậm chí như Bắc Ninh, còn chưa đến 10%. Ở Nam Định, trong điều kiện thực hiện việc thí điểm bỏ Hội đồng nhân dân cấp huyện thì được tăng thêm 03 đại biểu chuyên trách thành 9/67 đại biểu, chỉ chiếm 13,4%. So với thế giới thì tỷ lệ này quá khiêm tốn. Ví dụ tại Nhật Bản, Hội đồng nhân dân cấp xã chỉ có 23 đại biểu nhưng 100% là chuyên trách, hưởng chế độ tương đương với Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp. Vì vậy, theo chúng tôi, cần đảm bảo những điều kiện cần thiết, trước hết là về mặt nhân lực, thì Hội đồng nhân dân mới thực hiện tốt được chức năng, nhiệm vụ của mình.

Theo quy định của pháp luật thì Hội đồng nhân dân có rất nhiều quyền nhưng thực tế muốn làm lại phải xin ý kiến, xin được thì không có đủ người để làm, nên dẫn đến tình trạng “quân vay tướng mượn”, nên khó đảm bảo được hiệu quả thực hiện nhiệm vụ một cách tốt nhất. Đây là một vấn đề lớn mà bản thân Hội đồng nhân dân không thể giải quyết được mà cần sự quan tâm thực sự, cụ thể và trách nhiệm từ Quốc hội, nhất là khi ban hành Luật Chính quyền địa phương, vấn đề này nên được xem xét một cách thấu đáo hơn.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK