TÍCH CỰC THỂ CHẾ HÓA TINH THẦN HIẾN PHÁP 2013 VỀ BẢO ĐẢM AN SINH XÃ HỘI
Cập nhật : 16:37 - 05/06/2014

An sinh xã hội là một khái niệm được nêu trong Điều 22 của Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền: Mỗi người, với tư cách là một thành viên của xã hội, có quyền an sinh xã hội và được quyền thực hiện - thông qua nỗ lực quốc gia và hợp tác quốc tế và phù hợp với tổ chức và các nguồn lực của mỗi quốc gia - các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa không thể thiếu cho nhân phẩm và sự phát triển tự do của mỗi cá nhân. Nói một cách đơn giản, xã hội có thể giúp mỗi cá nhân phát triển và tận dụng tối đa tất cả những lợi thế (văn hóa, công việc, phúc lợi xã hội) được cung cấp cho họ trong quốc gia đó. (1)

An sinh xã hội cũng có thể là các chương trình hành động của chính phủ nhằm thúc đẩy phúc lợi của người dân thông qua các biện pháp hỗ trợ đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn lực đầy đủ về thực phẩm, nơi trú ẩn, tăng cường sức khỏe, phúc lợi cho người dân nói chung và các bộ phận người dân yếu thế, dễ bị tổn thương như trẻ em, người già, người bệnh và người thất nghiệp. Các dịch vụ cung cấp an sinh xã hội thường được gọi là các dịch vụ xã hội.

Tại Điều 34, Hiến pháp năm 2013 vừa được Quốc hội Việt Nam khóa XIII thông qua có quy định: “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”. Là dự án luật đầu tiên cụ thể hóa tinh thần mới của Hiến pháp về quyền bảo đảm an sinh xã hội, để thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo sát sao của Đảng về xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng, toàn diện, bền vững, công bằng, linh hoạt, hiệu quả, dự án Luật bảo hiểm xã hội (sửa đổi) đang thu hút sự quan tâm của mọi tầng lớp cử tri, và được nhiều chuyên gia coi là một dự luật “khó” khi giải các bài toán về hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ, gắn với việc mở rộng diện bao phủ và bảo đảm cân đối Quỹ trong dài hạn.

Theo kế hoạch, dự án Luật này sẽ được Quốc hội thảo luận, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7 và dự kiến thông qua vào kỳ họp thứ 8 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2015.

          Để chuẩn bị trình Quốc hội tại kỳ họp tháng 5/2014, Chính phủ đã có Tờ trình số 28/TTr-CP ngày 07/02/21014 kèm theo hồ sơ dự án Luật. Bước đầu, dự án Luật đã được Thường trực Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội tổ chức thẩm tra sơ bộ. Ngày 18/4/2014, tại phiên họp thứ 27, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về dự án Luật bảo hiểm xã hội (sửa đổi). Nhất trí cao với sự cần thiết của việc ban hành dự án Luật này, nhiều ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội nhấn mạnh thêm về vai trò, ý nghĩa quan trọng của đạo luật trong việc kịp thời, khẩn trương cụ thể hóa Điều 34 Hiến pháp về quyền được bảo đảm an sinh xã hội của công dân, khắc phục một cách căn cơ những bất cập của Luật hiện hành nhằm đáp ứng  tốt hơn nguyện vọng của người lao động và góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Trong thời điểm hiện nay, việc sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội là một nhiệm vụ chính trị quan trọng đã được xác định trong Nghị quyết số 21- NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020 “Bảo hiểm xã hội phải đi trước một bước trong đổi mới chính sách, chế độ, linh hoạt, đa dạng cả về hình thức, mục tiêu và xã hội hóa để góp phần hướng tới mục tiêu an sinh xã hội và phúc lợi xã hội đa tầng, linh hoạt, bền vững, có thể hỗ trợ lẫn nhau, công bằng về trách nhiệm và lợi ích, chia sẻ rủi ro, hướng tới bao phủ toàn dân, chú trọng bảo vệ các đối tượng yếu thế phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội và tiếp cận với thông lệ quốc tế”.

Trải qua một quá trình lịch sử, chính sách bảo hiểm xã hội tại Việt Nam qua từng thời kỳ khác nhau đã góp phần to lớn vào việc ổn định đời sống cho người lao động thụ hưởng bảo hiểm xã hội, góp phần ổn định chính trị- xã hội đất nước và ngày càng khẳng định vị trí là trụ cột của hệ thống an sinh xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành Luật Bảo hiểm xã hội 2006 đã bộc lộ nhiều bất cập và đặt ra yêu cầu đổi mới chính sách, pháp luật phù hợp với các đặc điểm kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay và hướng đến mục tiêu củng cố, phát triển hệ thống an sinh xã hội một cách bền vững.

Đánh giá về sự cần thiết sửa đổi Luật, Tờ trình của Chính phủ nêu lên những thực tại đáng lo ngại: tốc độ mở rộng phạm vi bao phủ bảo hiểm xã hội chậm, hiện số người tham gia bảo hiểm xã hội mới chỉ chiếm khoảng 20% lực lượng lao động; chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện – vốn được coi là giải pháp để thúc đẩy mở rộng phạm vi bao phủ - thiếu sức hấp dẫn đối với người lao động bởi mức đóng khá cao, phương thức đóng thiếu linh hoạt, không phù hợp với việc làm có thu nhập thấp và không ổn định của lao động thuộc khu vực không chính thức nên mới chỉ thu hút được khoảng 0,3% số đối tượng thuộc diện tham gia; tình trạng nợ đóng hoặc chậm đóng bảo hiểm xã hội trong khu vực doanh nghiệp rất phổ biến, không chỉ ảnh hưởng tới nguồn thu Quỹ Bảo hiểm xã hội mà quan trọng hơn là trực tiếp ảnh hưởng tới quyền được bảo đảm an sinh của hàng triệu người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu; Quỹ hưu trí và tử tuất đứng trước nguy cơ mất cân đối trong tương lai gần do những bất cập, tồn tại của chính sách hiện hành (mất cân đối giữa mức đóng và mức hưởng dẫn đến tình trạng đóng ít – hưởng nhiều, tỷ lệ hưởng lương hưu cao, công thức tính tỷ lệ hưởng lương hưu chưa hợp lý, tuổi nghỉ hưu thấp dẫn tới số năm tham gia bảo hiểm xã hội thấp nhưng thời gian hưởng lương hưu dài, mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội còn khoảng cách lớn so với mức tiền lương, tiền công thực tế) và cả những bất cập trong tổ chức thực thi cũng như tính tuân thủ pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Biểu hiện cụ thể của sự mất cân đối này là  tỷ trọng giữa số tiền chi trả chế độ so với số thu bảo hiểm từ tiền đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động ngày càng tăng nhanh. Nếu như năm 2007 tỷ trọng số chi so với số thu chỉ chiếm 57,2% thì sang năm 2008 con số này là 73,7%, năm 2009 là 81,8%, năm 2010 là 76,3%; năm 2011 là 77,0%; năm 2012 là 68,6% và ước năm 2013 là 76,6%. Với khuôn khổ chính sách đang vận hành, dự báo Quỹ hưu trí và tử tuất có số thu bằng số chi vào năm 2021, từ năm 2022 trở đi, để đảm bảo chi chế độ hưu trí, tử tuất, ngoài số thu trong năm phải trích thêm từ số dư của tồn tích Quỹ và đến năm 2034 thì số thu bảo hiểm xã hội trong năm và số dư tồn tích Quỹ không đảm bảo khả năng chi trả.

Từ thực tiễn nêu trên, việc sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 hướng đến hai mục tiêu trọng tâm:

- Thứ nhất, củng cố, phát triển mạng lưới an sinh xã hội một cách vững chắc bằng các giải pháp tích cực để mở rộng nhanh hơn diện bao phủ bảo hiểm xã hội, hướng tới mục tiêu đến năm 2020 có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội.

- Thứ hai, điều chỉnh chính sách, pháp luật cùng với nâng cao tính tuân thủ pháp luật để bảo đảm yêu cầu cân đối và tăng trưởng Quỹ bảo hiểm xã hội một cách bền vững.

Hai mục tiêu này có mối liên quan chặt chẽ với nhau và đòi hỏi cần có một hệ thống giải pháp đồng bộ, đa diện, tương thích với nhau để đáp ứng cùng lúc cả yêu cầu về phát triển và tính bền vững.

Dự thảo Luật sửa đổi do Chính phủ trình đã đề xuất nhiều giải pháp để hiện thực hóa hai mục tiêu trọng tâm nói trên. Trong đó, để thực hiện mục tiêu an sinh “Phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả” Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã đề ra, dự thảo Luật tập trung vào các giải pháp mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm bắt buộc, sửa đổi chính sách để tăng cường tính hấp dẫn của bảo hiểm tự nguyện nhằm thu hút người lao động ở khu vực phi chính thức tham gia loại hình bảo hiểm này thông qua các điều chỉnh chính sách về mức đóng, phương thức đóng, mức hưởng bảo hiểm xã hội tự nguyện; bổ sung thêm hình thức bảo hiểm hưu trí bổ sung nhằm tăng cường khả năng an sinh của người hưởng lương hưu, hướng tới xây dựng hệ thống Bảo hiểm xã hội đa tầng; tăng cường quyền lợi của người thụ hưởng các chế độ bảo hiểm ngắn hạn (chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp).

Việc thực hiện các giải pháp tích cực mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội không chỉ tăng cường mạng lưới an sinh mà còn là giải pháp quan trọng để tăng nguồn thu, bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm xã hội trong dài hạn.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK