Tác động của môi trường chính trị- xã hội đến sự bền vững của hiến pháp
Cập nhật : 16:29 - 05/06/2014

“Bền vững Hiến pháp” rất khó để có thể định nghĩa hoặc đo đếm rõ ràng. Sự tồn tại của một bản Hiến pháp có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Về tính pháp lý, Hiến pháp có thể được thay đổi bằng các lần sửa đổi, giải thích hoặc thay thế.

Hiến pháp không bất biến. Nó thường thay đổi theo thời gian để đáp ứng với những biến động về chính trị, kinh tế hoặc xã hội. Điểm mấu chốt là liệu các thay đổi đó có ảnh hưởng đến tính quy phạm pháp lý của Hiến pháp hiện hành. Ví dụ, quy trình sửa đổi hiến pháp được xây dựng với mục đích đáp ứng hoàn cảnh mới mà không làm ảnh hưởng tới tính pháp lý liên tục của bản hiến pháp.

 Tuy nhiên tình hình sẽ khác khi hiến pháp bị thay thế hoàn toàn. Trong trường hợp này, các nhà cải cách thể chế sẽ quyết định một bản hiến pháp mới được xây dựng dựa trên các thủ tục, quy trình pháp lý cụ thể không dựa trên những quy định của hiến pháp hiện tại. Quyết định này rất có thể báo hiệu của một sự chuyển tiếp dân chủ, với ít hoặc không thay đổi nội dung liên quan đến hiến pháp trước đó. Tuy nhiên, thay thế là một trường hợp rõ ràng của sự gián đoạn pháp lý, là biểu hiện của tính bất ổn định trong hiến pháp.

Sự ổn định của Hiến pháp- theo thuật ngữ pháp lý- là độ bền của bản hiến pháp ban đầu. Theo quan điểm này, tuổi thọ của một bản Hiến pháp là độ dài về thời gian tính từ lúc bản hiến pháp được ban hành đến lúc nó được thay thế chính thức bởi một bản hiến pháp khác. Tuổi thọ của hiến pháp càng dài thì độ bền vững của nó càng cao.

 

Độ bền của hiến pháp được đánh giá là rất quan trọng trong khoa học chính trị, được coi là một thành phần của chủ nghĩa hợp hiến. Rõ ràng nếu hiến pháp bị thường xuyên thay đổi, chắc chắn giới tinh hoa chính trị và người dân sẽ không còn coi hiến pháp như một đạo luật tối cao, cơ bản của một nhà nước, thể hiện ý chí và nguyện vọng của tuyệt đại đa số người dân nữa. Độ bền vững của hiến pháp cũng có sự khác biệt ở mỗi chế độ (chế độ nghị viện, chế độ tổng thống hay quyền hành pháp của nước đó mạnh hay yếu …).

 

Vậy những yếu tố nào tạo nên sự bền vững của Hiến pháp?

Trên thực tế, không có lời giải thích rõ ràng và chấp nhận rộng rãi về những yếu tố giúp hiến pháp có thể tồn tại lâu dài. Những công trình nghiên cứu về bản chất của hiến pháp coi sự bền vững của Hiến pháp như một hàm số thời gian. Một vài quan điểm thì cho rằng việc xây dựng, thiết kế hiến pháp là tác nhân chính tác động đến sự bền vững của Hiến pháp. Một vài  quan điểm khác lại nhấn mạnh sự ổn định của hiến pháp phụ thuộc vào thể chế mà hiến pháp đó tồn tại hoặc sự tác động  của môi trường chính trị - xã hội. Sự bền vững Hiến pháp cũng cần phải tính đến những quy định và những yếu tố tác động cụ thể của mỗi quốc gia.

 

Những phân tích dưới đây sẽ giải thích nguồn gốc và sự thay đổi của những thể chế chính trị quan trọng tác động đến sự bền vững của Hiến pháp.

Theo nhà khoa học chính trị- xã hội người Nauy Stein Rokkan, sự chuyển đổi từ quy tắc đa số sang đại diện là kết quả của những lợi ích chính trị. Giai cấp công nhân luôn muốn giảm thấp ngưỡng đại diện để họ có thể tham gia vào hoạt động của các cơ quan lập pháp. Những lực lượng chính trị cũ thì lại muốn bảo vệ vị trí của họ để chống lại làn sóng mới nổi của giai cấp công nhân. Nói cách khác, một thay đổi về chính trị có tác động ngoại sinh tới những thể chế hiện hành, là chìa khóa dẫn đến những thay đổi về hiến pháp. Một lập luận tương tự khác cho rằng sự  chuyển đổi trong hệ thống đảng phái, ví dụ như sự sụp đổ của các đảng cầm quyền trước đây hoặc sự xuất hiện của các đảng phái mới, sẽ đứng trước những thay đổi trong hệ thống bầu cử. Từ đó dẫn đến sự thay đổi trong hệ thống chính trị và có khả năng tác động đến sự bền vững của hiến pháp hiện hành.

Một số quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ chỉ đơn giản là khôi phục lại bản hiến pháp của giới cầm quyền trước đó, trong khi một số quá trình chuyển đổi khác lại tạo ra một hiến pháp mới. Quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ sẽ thúc đẩy việc thay đổi hiến pháp hiện tại chỉ khi môi trường chính trị mới khác căn bản so với hệ thống cầm quyền trước đây.

 

Những phân tích cho rằng hiến pháp được tạo ra và thay đổi phản ánh sự thay đổi về mặt chính trị sẽ có ý nghĩa nếu chúng ta xem xét các sự kiện lịch sử dẫn đến việc hình thành hiến pháp. Thay đổi hiến pháp có xu hướng xảy ra trong bối cảnh khủng hoảng hoặc có những biến động lớn, như các cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội, các cuộc cách mạng, chế độ sụp đổ, tái thiết sau chiến tranh hay sự giải thoát khỏi chế độ thực dân. Tất cả những sự kiện quan trọng đều có khả năng làm đảo lộn sự cân bằng của hiến pháp tồn tại từ trước.

Rõ ràng những thay đổi quan trọng trong môi trường chính trị và xã hội có khả năng làm tăng nguy cơ thay thế hiện pháp hiện hành. Tuổi thọ của hiến pháp sẽ ngắn hơn khi đất nước trải qua quá trình chuyển đổi chế độ, thay đổi trong hệ thống đảng, các cuộc đảo chính quân sự và các cuộc cách mạng hay việc huy động xã hội chống lại Chính phủ hoặc thể chế chính trị đương nhiệm.

Tuy nhiên, khi giải thích về sự ổn định của hiến pháp, không thể chỉ dựa vào các yếu tố hoàn cảnh. Để xác định xem liệu những thay đổi về môi trường có tác động đến nguy cơ thay thế hiến pháp hay không, thì việc kiểm soát những tác động liên quan đến việc xây dựng và thiết kế hiến pháp là cực kỳ quan trọng. Ở đây có hai lý do. Thứ nhất, thể chế nội tại của hiến pháp có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại của hiến pháp. Thứ hai, một số khía cạnh cụ thể trong quá trình thiết kế hiến pháp và xây dựng có thể tạo ra những yếu tố có ảnh hưởng đến độ bền vững của hiến pháp. Ví dụ một điều luật trong Hiến pháp được giải thích không rõ ràng, khó hiểu hay được đặt trong điều kiện ngữ cảnh không phù hợp, cũng có thể tác động đến sự ổn định lâu dài của hiến pháp.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK