NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN-NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Cập nhật : 15:10 - 04/06/2014

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được thông qua tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa 13 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2014. Theo đó, Luật tổ chức chính quyền địa phương; Luật hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân; Luật bầu cử đại biểu Quốc hội; luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (hợp nhất) và một số Luật khác về tổ chức bộ máy nhà nước sẽ được xây dựng, trình Quốc hội xem xét, thông qua để bảo đảm sự phù hợp với những đổi mới trong Hiến pháp.

Theo quy định của Hiến pháp, “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”.

Thực tế trong những năm qua, Hội đồng nhân dân các cấp đã có nhiều đổi mới trong tổ chức và hoạt động, đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh trật tự xã hội của địa phương. Tuy nhiên so với yêu cầu về chất lượng, hiệu quả mà hoạt động của HĐND cần đạt được để góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền vẫn còn khiêm tốn, chưa tạo ra chuyển biến mạnh mẽ, căn cơ, biểu hiện như: quyết sách có lúc có nơi chưa đi vào cuộc sống; hiệu quả giám sát chưa cao còn tình trạng nể nang, ngại va chạm, tiếp xúc cử tri mang tính hình thức, tiếp công dân và đôn đốc giải quyết các kiến nghị chính đáng của công dân còn bất cập. Trong nhiều nguyên nhân hạn chế, vấn đề về cơ cấu tổ chức, bộ máy, số lượng và chất lượng đại biểu, cơ sở pháp lý, cơ chế thực thi quyền lực… vẫn đang là những thách thức.

Với mong muốn thu được những kết quả thiết thực góp phần khắc phục những hạn chế, tiếp tục phát huy những kết quả đạt được trong tổ chức và hoạt động của HĐND thời gian qua cũng như tìm ra những giải pháp để tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân, mới đây, Ban Công tác đại biểu đã tổ chức hội thảo với chủ đề trên tại Yên Bái (11/4) và Bến Tre (28/4/2014). Đây thực sự là một hoạt động có ý nghĩa, phù hợp với những vấn đề thực tiễn đang đặt ra. Những ý kiến trao đổi, thảo luận tại hội thảo này, nhất là những bất cập trong quá trình thực hiện Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân  đang gợi  mở cho những người có trách nhiệm nhiều suy nghĩ.

   1.Những vấn đề về nhân sự đại biểu HĐND

Những ý kiến tại 2 hội thảo đều trăn trở với vấn đề này. Bởi thực tế hiện nay công tác quy hoạch cán bộ HĐND chưa được quan tâm đúng tầm, thậm chí thiếu kế hoạch cụ thể về đào tạo nguồn cán bộ kế cận có đủ năng lực, phẩm chất, trình độ và kinh nghiệm công tác HĐND.

Cơ cấu đại biểu xét về phương diện chung thì hợp lý, song chưa thật đảm bảo tính đại diện, vì vậy nhiều ý kiến cho rằng cần phải tăng thành phần trí thức, tăng đại biểu hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau, tăng đại biểu ở khối Đảng, đoàn thể để đảm bảo tính khách quan hơn trong các hoạt động của HĐND.

Chất lượng đại biểu cũng được đề cập nhiều. các ý kiến thống nhất rằng, chất lượng đại biểu có vai trò quan trọng trong những quyết sách của địa phương. Đối với Thường trực Hội đồng nhân dân cũng như các Ban của Hội đồng nhân dân cần có đại biểu tâm huyết, có trình độ, am hiểu sâu các lĩnh vực liên quan đến hoạt động của Hội đồng nhân dân và lĩnh vực mà Ban phụ trách thì mới có những ý kiến đóng góp thiết thực, những quyết định đúng, giúp cho các quyết định của Hội đồng nhân dân có chất lượng, hiệu quả, khả thi cao.

Đại biểu Hội đồng nhân dân hiện nay phần đông là cán bộ công chức Nhà nước và hoạt động kiêm nhiệm, họ không thể dành nhiều thời gian cho việc vừa làm nhiệm vụ chuyên môn vừa làm nhiệm vụ đại biểu. Và khi họ vừa là chủ thể thực hiện quyền giám sát vừa là đối tượng chịu sự giám sát thì khó đảm bảo tính khách quan.

2. Vấn đề về cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân

Theo Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003, Thường trực HĐND cấp tỉnh, huyện có thêm chức danh Ủy viên thường trực, thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã (gồm Chủ tịch và Phó Chủ tịch) được thành lập. Việc cơ cấu Bí thư hoặc Phó Bí thư cấp ủy làm Chủ tịch, Phó Chủ tịch là Ủy viên Ban Thường vụ hoặc cấp ủy viên cùng cấp thể hiện sự tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy, song so với yêu cầu thực tiễn, với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân thì còn phải tiếp tục hoàn thiện. Theo hướng dẫn của Trung ương, chức danh Chủ tịch Hội đồng nhân dân phải là Bí thư hoặc Phó Bí thư kiêm, tuy nhiên trong quá trình triển khai, có địa phương thực hiện chưa nghiêm, phân công đồng chí trong Thường vụ đảm trách nhiệm vụ Chủ tịch Hội đồng nhân dân, điều này cũng hạn chế tới vị thế và vai trò quyền lực của Hội đồng nhân dân địa phương.

Với chức danh Ủy viên thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, rất nhiều ý kiến cho rằng nên bỏ chức danh này và bổ sung thay vào đó là Phó Chủ tịch để khắc phục tình trạng địa vị pháp lý hiện nay chưa rõ ràng, khó hoạt động.

Cơ cấu các Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hiện nay còn có điều chưa hợp lý, chưa quy định cụ thể tỷ lệ, cơ cấu thành viên chuyên trách cũng như Lãnh đạo Ban. Có nơi Trưởng Ban kiêm nhiệm, có nơi chuyên trách, có nơi 2 phó Ban, có nơi 3 hay 4 phó Ban, có phó ban kiêm nhiệm, có phó ban chuyên trách. Các Ban ở cấp huyện hiện nay hầu như không có đại biểu chuyên trách, cấp xã thì không có Ban.

Tham mưu, giúp việc cho Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương hiện nay có Văn phòng Đoàn ĐBQH & HĐND. Đa số các địa phương đều cho rằng cần quy định thống nhất mô hình tổ chức, chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức; cần kiện toàn Văn phòng theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả, phân công nhiệm vụ rõ ràng để phối hợp đồng bộ, tránh chồng chéo, khắc phục sự bất cập trong quản lý điều hành hoạt động của Văn phòng, phù hợp yêu cầu nâng cao chất lượng công tác tham mưu phục vụ trong giai đoạn hiện nay.

3.Vấn đề cơ chế hoạt động

Theo quy định của pháp luật, Hội đồng nhân dân có vị trí rất quan trọng, song cơ chế thực thi quyền lực thiếu nhiều quy định, thiếu những chế tài đảm bảo cho HĐND các cấp thực hiện được quyền hạn. Từ đó dễ dẫn đến tính hình thức trong hoạt động, khó khẳng định vai trò là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương. Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban Nhân dân quy định “Hội đồng nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương”, nhưng nhận thức của mỗi  địa phương về cụm từ “ quan trọng” không phải đều giống nhau. Và thực tế, những nội dung được HĐND thông qua lại phải chờ quyết định (văn bản hướng dẫn) của UBND thì Nghị quyết của Hội đồng nhân dân  mới đi được vào cuộc sống. Điều này làm giảm tính thực chất trong giá trị pháp lý Nghị quyết của HĐND, ảnh hưởng tới vị thế của HĐND.

Những quy định về tổ chức và thực hiện chức năng giám sát của HDND cũng cần được quan tâm. Hiện nay, một số quy định chưa có hướng dẫn cụ thể, thiếu ràng buộc pháp lý khiến cho hiệu quả trong hoạt động này chưa cao. Chính vì chưa có những chế tài cần thiết nên thời gian qua, ở một số địa phương, kết quả giám sát rất rõ ràng song chưa xem xét được trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền cũng như không giải quyết được triệt để những tồn tại của hậu giám sát. Làm sao để HĐND thực hiện quyền giám sát thật sự hiệu quả cũng như có chế tài cụ thể để phân định trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, các chức danh Nhà nước được giám sát… là một trong những vấn đề cần được xem xét. Hiện nay, Hội đồng nhân dân giám sát thông qua hoạt động của Thường trực HĐND, của các Ban, thông qua hoạt động chất vấn trong kỳ họp, thông qua bỏ phiếu tín nhiệm của đại biểu HĐND tại kỳ họp… Nhiều ý kiến cho rằng cần quy định có hình thức giám sát là chất vấn giữa 2 kỳ họp tại Thường trực HĐND do Thường trực HĐND chủ trì. Thực tế một số địa phương đã áp dụng hình thức này song do quy định về hình thức này chưa có trong Luật nên việc tổ chức chưa thống nhất.

Nhiều ý kiến cũng đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội tăng cường hơn nữa các hoạt động giám sát, đồng thời ghi nhận và đánh giá cao việc hướng dẫn hoạt động, tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng hoạt động, cung cấp thông tin, tài liệu, tổ chức hội thảo trong thời gian qua của Ban Công tác đại biểu đã góp phần giúp đại biểu HĐND nâng cao kỹ năng hoạt động.

 Qua hội thảo, thấy tồn tại không ít vấn đề mà tới đây các cơ quan chuyên môn có trách nhiệm cần phải cùng nhau tháo gỡ thông qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và những hướng dẫn hoạt động. Những vướng mắc trong quá trình tổ chức và hoạt động của HĐND đang cần từng bước hoàn thiện, từ mô hình tổ chức, phương thức hoạt động, cơ chế chính sách… để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn, để chất lượng hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp trên phạm vi cả nước ngày càng nâng cao.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK