Những kết quả sau 30 năm thực hiện Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982
Cập nhật : 11:13 - 02/01/2014

Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (1) (United Nations Convention on Law of the Sea - UNCLOS), là một hiệp ước quốc tế được tạo ra trong Hội nghị về luật biển Liên Hiệp Quốc lần thứ 3 diễn ra từ năm 1973 cho đến 1982. Công ước Luật biển là một bộ các quy định về sử dụng các đại dương của thế giới, chiếm 70% diện tích bề mặt Trái Đất. Công ước đã được ký kết năm 1982 để thay thế cho 4 hiệp ước năm 1958 đã hết hạn.

Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển có hiệu lực từ ngày 16/11/1994, và đến nay, có 154 quốc gia và Cộng đồng châu Âu đã tham gia Công ước này. Hoa Kỳ không tham gia vì nước này tuyên bố rằng hiệp ước này không có lợi cho kinh tế và an ninh của Mỹ. Công ước quy định quyền và trách nhiệm của các quốc gia trong việc sử dụng biển, thiết lập các hướng dẫn rõ ràng cho các hoạt động kinh doanh, bảo vệ môi trường và cải thiện quản lý các tài nguyên thiên nhiên đại dương.

Là một văn kiện đồ sộ, bao gồm 320 điều khoản, 17 phần và 9 phụ lục, với hơn 1000 quy phạm pháp luật, Công ước Luật Biển 1982 được coi là Hiến pháp của thế giới về các vấn đề biển và đại dương và là một trong những thành tựu có ý nghĩa nhất trong lĩnh vực luật pháp quốc tế của thế kỷ XX. Lần đầu tiên trong lịch sử, Công ước UNCLOS 1982 đã đưa ra một tổng thể các quy định luật pháp bao trùm tất cả các vùng biển và lĩnh vực sử dụng biển: chế độ pháp lý của tất cả các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; biển cả và vùng di sản chung của loài người; các quy định hàng hải và hàng không; sử dụng và quản lý tài nguyên biển, sinh vật và không sinh vật; bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an ninh trật tự trên biển, giải quyết tranh chấp và hợp tác quốc tế về biển.

Công ước Luật Biển 1982 là một Công ước tiến bộ, thể hiện sự thảo hiệp mang tính toàn cầu có tính đến lợi ích của tất cả các quốc gia trên thế giới. Công ước không chấp nhận bảo lưu mà đòi hỏi phải tham gia cả gói (package deal). Nếu phê chuẩn Công ước này, các quốc gia phải có trách nhiệm ràng buộc và thực hiện toàn bộ các điều khoản của Công ước.

Phát biểu tại Hội nghị kỷ niệm 30 năm ra đời Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 tại Hàn Quốc tháng 8-2012, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon đã nhấn mạnh, Công ước Luật Biển là "một trong những công cụ pháp lý quan trọng nhất của thế giới… góp phần vào hòa bình an ninh quốc tế, cũng như việc sử dụng công bằng và hiệu quả các nguồn tài nguyên của đại dương, bảo vệ và bảo tồn môi trường biển và hiện thực hóa một trật tự kinh tế công bằng và hợp lý” (2).

Việt Nam là một quốc gia ven biển với hơn 3.200km bờ biển, các hoạt động kinh tế trên biển chiếm một tỷ trọng lớn, mang lại nhiều giá trị kinh tế. Ngày 23/6/1994, Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn Công ước. Nghị quyết được thông qua trên cơ sở cân nhắc lợi ích quốc gia lâu dài liên quan đến chủ quyền, hòa bình và phát triển của đất nước, bảo vệ và tận dụng các quyền và lợi ích cơ bản mà Công ước 1982 đem lại cho một nước ven biển đang phát triển, khắc phục và hạn chế đến mức cao nhất những bất lợi có thể xảy ra. Nghị quyết biểu thị quyết tâm của Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển.

Ý nghĩa của việc phê chuẩn Công ước 1982:

-               Chính thức hóa cơ sở pháp lý quốc tế về phạm vi các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam. Gia nhập Công ước 1982, nước ta được quốc tế thừa nhận có vùng lãnh hải 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý và có thể mở rộng tới 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2.500m. Diện tích các vùng biển và thềm lục địa mà nước ta được hưởng theo quy định của Công ước 1982 mở rộng gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền.

-               Là cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc trong đấu tranh bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa, các quyền và lợi ích chính đáng của nước ta trên biển, đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Công ước 1982 là cơ sở pháp lý chung cho việc giải quyết các tranh chấp phân định vùng biển giữa nước ta với các nước láng giềng, góp phần tạo môi trường ổn định, hòa bình, hợp tác và phát triển trong Biển Đông.

-               Tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế trong việc bảo vệ chủ quyền, lợi ích chính đáng của nước ta trên biển, tạo điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng hợp tác quốc tế nhằm bảo vệ, khai thác biển vì lợi ích của đất nước và của cả cộng đồng quốc tế.

-               Là cơ sở để rà soát và hoàn chỉnh các luật lệ cần thiết bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng biển và thềm lục địa nước ta cũng như tăng cường sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực sử dụng, khai thác, bảo vệ môi trường biển ở nước ta.

-               Cho phép mở rộng quyền lợi của Việt Nam trong thăm dò và khai thác đáy đại dương, vùng di sản chung của loài người, cũng như các hoạt động tự do khác ngoài biển cả.

Việc tạo lập một môi trường hòa bình, ổn định trên biển Đông là điều kiện tiên quyết cho hợp tác và phát triển, vì một trật tự pháp lý trên biển công bằng theo các quy định của Công ước 1982. Chính sách đối ngoại của Việt Nam trong việc thực hiện Công ước 1982 thể hiện rõ trong hai mặt:

-               Kiềm chế và giải quyết các tranh chấp trên biển thông qua đàm phán, thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cũng như tôn trọng lợi ích của nhau. Trong khi tìm kiếm một giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề Biển Đông, các bên cần kiềm chế không làm gì để tình hình phức tạp thêm, tiến hành hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm, phù hợp với các quy định của Công ước 1982.

-               Mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phương và đa phương nhằm thúc đẩy hợp tác phát triển trong khuôn khổ thực hiện Công ước 1982.

Sau khi phê chuẩn và trở thành thành viên của Công ước Luật Biển năm 1982, Việt Nam đã tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các cơ chế quốc tế theo Công ước. Khi tiến hành các hoạt động ở Biển Đông, Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của Công ước, tôn trọng quyền của các quốc gia khác ven biển Đông cũng như các quốc gia khác theo đúng các quy định của Công ước. Áp dụng các quy định của Công ước, Việt Nam đã tiến hành đàm phán, phân tích các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn với các quốc gia láng giềng trong khu vực Biển Đông, chủ trương giải quyết những vấn đề bất đồng thông qua đàm phán và các biện pháp hòa bình.

Những kết quả đàm phán cụ thể mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua có thể kể đến như: hoàn thành phân định ranh giới thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế với Thái Lan (năm 1997); hoàn thành phân định lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc (năm 2000); hoàn thành phân định ranh giới thềm lục địa với Indonexia (năm 2003). Đồng thời, tuân thủ thời hạn và các thủ tục theo quy định của Công ước Luật Biển 1982, tháng 5-2009, Việt Nam và Malaysia đã cùng đệ trình báo cáo chung về ranh giới thềm lục địa vượt quá 200 hải lý tại khu vực phía Nam Biển Đông lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa.

Những thành tựu trên một mặt chứng tỏ Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm của Công ước, mặt khác chứng tỏ giá trị và ý nghĩa của Công ước trong việc tạo lập trật tự pháp lý trên biển vì hòa bình ổn định và phát triển chung.

Một sự kiện quan trọng, đánh dấu bước ngoặt trong các thành tựu liên quan đến Công ước Luật Biển 1982, là ngày 21-6-2012, Quốc hội Việt Nam chính thức thông qua Luật Biển và có hiệu lực từ ngày 1-1-2013. Luật Biển là biểu hiện rõ nét nhất quyết tâm của Việt Nam thực hiện có trách nhiệm các cam kết quốc tế nói chung và Công ước Luật Biển nói riêng. Tại Điều 2, khoản 2, Luật Biển quy định "Trường hợp quy định của Luật này khác với quy định của Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó”. Việc đặt Công ước Luật Biển có giá trị pháp lý cao hơn so với pháp luật quốc gia thể hiện tôn trọng và tuân thủ nghiêm túc có trách nhiệm của Chính phủ Việt Nam đối với các vấn đề pháp lý trên biển.

Công ước 1982 đã mở rộng những vùng biển và quyền lợi trên biển của Việt Nam, mang lại cả thời cơ lẫn thách thức mới cho Việt Nam. Chính sách đối ngoại của Việt Nam trong những năm qua đã tận dụng được những cơ hội hòa hoãn giữa các nước lớn, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của các nước trong khu vực, chủ động giải quyết hòa bình các tranh chấp trên biển, đấu tranh hạn chế những hành động bành trướng quân sự, nhằm tạo lập một môi trường ổn định, hòa bình và một cơ chế giải quyết tranh chấp đa phương ở Biển Đông. Việt Nam có nhiều cơ hội tham gia các cơ quan chuyên môn, các đề án hoạt động quốc tế trong khuôn khổ Công ước 1982, từ đó tăng cường vị trí của Việt Nam, đưa đất nước trở thành một một quốc gia mạnh về biển, xứng đáng với vị trí địa - chiến lược và tầm vóc mà Công ước 1982 đem lại.
 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK