Cần sớm sửa đổi Luật Bảo hiểm y tế theo hướng mở rộng bền vững, bao phủ hiệu quả
Cập nhật : 9:04 - 06/09/2012

Luật Bảo hiểm y tế được QH Khóa XII thông qua tại Kỳ họp thứ Tư và có hiệu lực thi hành từ năm 2009. Tham dự Hội thảo chuyên gia về vấn đề bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh và viện phí do Ủy ban Về các vấn đề xã hội tổ chức giữa tháng 8 vừa qua, nhiều đại biểu cho rằng, sau 3 năm triển khai thực hiện, bên cạnh những kết quả đạt được, Luật đã bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc. Bảo hiểm y tế hiện mới tập trung bao phủ ở chiều rộng (dân số) mà chưa bao phủ theo chiều sâu (gói dịch vụ) và chiều cao (bảo vệ tài chính). Để thực hiện mục tiêu chung của bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân theo đúng lộ trình, những vướng mắc này cần sớm được tháo gỡ, góp phần tạo nguồn tài chính ổn định cho công tác chăm sóc sức khỏe theo hướng công bằng, chất lượng và phát triển.

Theo Báo cáo của Bộ Y tế trình bày tại Hội thảo cho thấy, qua 3 năm triển khai thi hành Luật, kết quả nổi bật là bảo đảm tiến độ thực hiện với các nhóm đối tượng theo đúng lộ trình đã thông qua trong Luật. Tính đến ngày 31.12.2011, đã có 55,9 triệu người, bằng 63,7% dân số có bảo hiểm y tế, trong đó nhóm có tỷ lệ tham gia đạt 100% là hành chính sự nghiệp, hưu trí; và nhóm có tỷ lệ tham gia cao là người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, học sinh, sinh viên. Ba kết quả khác mà bảo hiểm y tế đã đạt được sau 3 năm Luật Bảo hiểm y tế có hiệu lực thi hành thể hiện ở số lượt khám chữa bệnh bảo hiểm y tế ở hầu hết các tuyến tăng đều; số lượng các cơ sở y tế điều chỉnh cơ chế thanh toán (định suất hoặc trọn gói theo ca bệnh) theo quy định của Luật; và bảo đảm được cân đối quỹ bảo hiểm y tế.

Như vậy rõ ràng ở khía cạnh bao phủ, một trong ba yếu tố bảo đảm sự thành công của chính sách bảo hiểm y tế, bảo hiểm y tế nước ta đã đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, ở hai yếu tố còn lại là giảm chi từ tiền túi của người bệnh và gói quyền lợi của người dân tham gia bảo hiểm y tế thì dường như chính sách bảo hiểm y tế hiện hành chưa thực sự tạo sức hút để người dân chủ động và tự nguyện tham gia bảo hiểm y tế. Người dân chưa thực sự mặn mà với việc tham gia bảo hiểm y tế, hay nói cách khác là chưa nhận rõ những giá trị và quyền lợi thụ hưởng khi tham gia bảo hiểm y tế. Việc các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế chủ yếu do Nhà nước hỗ trợ. Câu hỏi đặt ra là nếu không cóbàn tay của Nhà nước thì tỷ lệ phần trăm thực mà người dân tham gia bảo hiểm y tế là bao nhiêu? Theo đại diện Lãnh đạo Viện Xã hội học thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, nếu so sánh giữa tỷ lệ người dân tham gia và không tham gia bảo hiểm y tế, thì sự khác biệt dường như không đáng kể. Bởi lẽ, dù có hay không có bảo hiểm y tế, người dân cũng đều sợ khám chữa bệnh. Nguyên nhân của tình trạng này đều do chất lượng khám, chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế còn thấp và xu hướng chung là nếu có điều kiện lựa chọn thì người bệnh sẽ tìm đến những dịch vụ khám, chữa bệnh tư hơn là vào bệnh viện công. Thực tế cho thấy, theo đánh giá của Bộ Y tế, thì việc cung ứng và chất lượng dịch vụ còn hạn chế, nhất là ở tuyến cơ sở. Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế và cán bộ chuyên môn chưa đáp ứng. Tình trạng quá tải còn khá phổ biến, nhất là ở các cơ sở tuyến tỉnh, tuyến Trung ương và tình trạng chuyển tuyến khó kiểm soát. Chất lượng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, thủ tục hành chính, phân tuyến kỹ thuật chưa phù hợp... Đó là góc nhìn của cơ quan được giao trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực y tế. Còn dưới góc nhìn thực tiễn, nhiều ý kiến cho rằng, sở dĩ bảo hiểm y tế chưa phát huy được tính ưu việt và kết quả như mong muốn là bởi các chi phí gián tiếp trong khám, chữa bệnh đang có xu hướng tăng cao. Và dù có hay không có bảo hiểm y tế thì người bệnh vẫn phải chi trả những khoản chi phí này. Đương nhiên, đây hoàn toàn không phải nguyên nhân khách quan do đòi hỏi của các cơ sở khám chữa bệnh, bởi tâm lý của hầu hết người bệnh và gia đình đều chủ động chi trả khoản phí gián tiếp này với mong muốn người nhà được thụ hưởng chế độ khám chữa bệnh tốt nhất.

Đề cập đến việc tham gia bảo hiểm y tế ở góc độ khác, nhiều đại biểu tham dự Hội thảo cho rằng, việc tham gia bảo hiểm y tế ở nước ta đang theo tâm lý ngược chiều: chỉ khi ốm hoặc sắp ốm, người dân mới thấy xuất hiện nhu cầu mua thẻ bảo hiểm y tế. Mua bảo hiểm y tế chỉ có lợi khi người bệnh mắc bệnh nặng, nan y, chi phí điều trị cao. Còn nếu cần khám chữa bệnh mang tính chất kiểm tra sức khỏe hoặc bệnh thông thường thì người bệnh sẵn sàng chi trả bằng tiền túi để tránh phải chờ đợi mà không phải lúc nào cũng được thụ hưởng dịch vụ khám chữa bệnh có chất lượng như mong muốn.

Ghi nhận tính ưu việt và tốt đẹp của chính sách bảo hiểm y tế với diện bao phủ rộng, góp phần từng bước bảo đảm những điều kiện chăm sóc sức khỏe tối thiểu cho người dân, tuy nhiên không thể không tính đến những điểm hạn chế nêu trên. Đặt trong mối tương quan với mục tiêu chung, lâu dài là tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân, góp phần tạo nguồn tài chính ổn định cho công tác chăm sóc sức khỏe theo hướng công bằng, hiệu quả, chất lượng và phát triển, thì những hạn chế nêu trên cần được sớm xem xét, khắc phục.

Theo Lãnh đạo Vụ pháp chế - Bộ Y tế, để đạt mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân, trước hết phải định hướng, xây dựng chính sách theo chiều sâu, nghĩa là làm tốt hai yếu tố giảm chi từ tiền túi người bệnh và bảo đảm quyền lợi của người dân tham gia bảo hiểm y tế. Với đối tượng khám chữa bệnh là những người nghèo, thuộc diện gia đình chính sách, bảo trợ xã hội thì Nhà nước nên thực hiện khám chữa bệnh miễn phí, tận nơi, tận nhà người bệnh như nhiều nước trên thế giới đã và đang áp dụng hiệu quả. Biện pháp này vừa giúp người nghèo giảm chi phí đi lại vừa thể hiện rõ sự quan tâm của Nhà nước đối với người nghèo. Với đối tượng khám chữa bệnh là những người có khả năng tài chính, đủ điều kiện để mua bảo hiểm y tế thì phải quy định theo hướng bắt buộc. Ví dụ đối với các doanh nghiệp, nhóm có khả năng tham gia bảo hiểm y tế nhưng lại thuộc nhóm có tỷ lệ tham gia thấp, hiện chiếm tới 51,3%, thì cần có biện pháp cưỡng chế việc đóng bảo hiểm y tế nhằm bảo đảm quyền lợi cho người lao động làm việc tại doanh nghiệp. Đồng tình với quan điểm cần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, song theo nhiều đại biểu tham dự Hội thảo thì việc thực hiện cưỡng chế mua bảo hiểm y tế trong điều kiện kinh tế – xã hội hiện nay của đất nước là không hợp lý. Việc cần và nên làm là tăng cường biện pháp giảm chi gián tiếp từ túi người bệnh. Nâng cao chất lượng và đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế, trong đó bao gồm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế; đầu tư trang thiết bị, xây dựng, cải tạo và mở rộng cơ sở hạ tầng; nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ y tế tuyến dưới; chăm lo cho công tác y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu; bảo đảm nguồn nhân lực... Đổi mới cơ chế tài chính. Tiếp tục tăng đầu tư NSNN cho y tế, bảo đảm chi tiêu công cho y tế, giảm chi tiêu trực tiếp từ tiền túi hộ gia đình. Bảo đảm nguồn NSNN đóng bảo hiểm y tế, tăng dần mức hỗ trợ cho những đối tượng cận nghèo, học sinh, sinh viên, nông dân, có cơ chế khuyến khích bảo hiểm y tế tự nguyện. Điều chỉnh giá dịch vụ y tế theo hướng tính đúng, đủ, phù hợp với nội dung đầu tư; phù hợp với khả năng chi trả của người bệnh; chuyển cơ chế cấp kinh phí từ NSNN cho cơ sở cung ứng dịch vụ sang đối tượng thụ hưởng (người tham gia bảo hiểm y tế).

Cùng với những giải pháp nêu trên thì giải pháp cơ bản, gốc rễ hơn cả vẫn phải là tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế. Sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm y tế và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Đề án thực hiện lộ trình bảo hiểm y tế với ba mục tiêu cụ thể. Một là tăng tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế thông qua việc tiếp tục duy trì các nhóm đối tượng đã đạt tỷ lệ 100%, mở rộng các nhóm đối tượng để đến năm 2015 đạt tỷ lệ trên 75% và đến năm 2020 có trên 90% dân số tham gia bảo hiểm y tế. Hai là nâng cao chất lượng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người tham gia bảo hiểm y tế. Ba làtừng bước đổi mới cơ chế tài chính, phấn đấu đến năm 2015 giảm chi tiêu trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình xuống dưới 40%. Trong tiến trình này, QH  có vai trò quan trọng, cùng với việc sớm xem xét sửa đổi, bổ sung một số điều không còn phù hợp với thực tiễn của Luật Bảo hiểm y tế, thì QH cần tăng cường giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, tránh sự chồng chéo, thiếu thống nhất giữa các văn bản hướng dẫn thi hành Luật và tổ chức thực hiện Luật.

Để bảo hiểm y tế thực sự đi vào chiều sâu (các gói dịch vụ được chi trả bằng bảo hiểm y tế), Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Nguyễn Văn Tiên cho rằng, cần làm rõ định hướng, quan điểm: Nhà nước chỉ bảo đảm chi phí y tế tối thiểu cho nhân dân, nói cách khác là Nhà nước chỉ hỗ trợ người bệnh chữa bệnh, chứ không bao cấp hết các khoản chi cho khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế. Ở đây có vai trò của khâu thông tin, tuyên truyền để người dân hiểu rõ rằng việc mua bảo hiểm y tế đồng nghĩa với việc người dân sẽ chắc chắn được Nhà nước hỗ trợ, chăm lo sức khỏe cho bản thân khi ốm đau.

(Hoàng Ngọc)

 

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK