Bình luận về quy định tuổi đời hưởng lương hưu trong dự án Bộ luật lao động (sửa đổi) dưới khía cạnh pháp lý
Cập nhật : 13:22 - 17/08/2011

Theo chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012, Bộ luật lao động (sửa đổi) sẽ được trình thông qua vào kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XIII. Trong hàng loạt các vấn đề được sửa đổi thì tuổi đời hưởng lương hưu của người lao động hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.

           

Về nội dung này, tại “Điều 201 Dự thảo Bộ luật lao động (sửa đổi), Ban soạn thảo đã trình hai phương án. Theo đó,

Phương án 1:Người lao động đảm bảo điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi.

Tuổi đời được hưởng chế độ hưu trí của những người làm các công việc nặng nhọc, độc hại hoặc làm việc ở vùng cao, biên giới, hải đảo và một số trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định.

Phương án 2: Người lao động đảm bảo điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi:

1. Người lao động thuộc đối tượng điều chỉnh của Bộ luật này thì tuổi về hưu là: nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi.

2. Cán bộ, công chức, viên chức thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật cán bộ, công chức, Luật viên chức là nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi; từ năm 2013 trở đi, cứ mỗi năm tăng thêm 1 tuổi cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi”.

Tuy nhiên, cả hai phương án trên đều có những vướng mắc nhất định. Ban soạn thảo khi chọn phương án nào cũng phải giải quyết thấu đáo các vấn đề pháp lý đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất với các văn bản pháp luật khác.

Về phạm vi và đối tượng điều chỉnh của Bộ luật lao động

Bộ luật lao động hiện hành cũng như dự thảo sửa đổi có phạm vi, đối tượng điều chỉnh đối với các quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ xã hội khác có liên quan trực tiếp tới quan hệ lao động; trong đó người lao động là người làm việc theo hợp đồng lao động, người học nghề, tập nghề, người giúp việc gia đình và một số loại lao động khác được quy định tại Bộ luật này.

Như vậy, các đối tượng cán bộ, công chức, viên chức là các đối tượng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật (cách hiểu của Ban soạn thảo cũng như vậy khi quy định tại Phương án 2 Điều 201 là: Người lao động thuộc đối tượng điều chỉnh của Bộ luật này thì tuổi về hưu là: nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi). Các đối tượng cán bộ, công chức, viên chức có tính đặc thù riêng nên do các Luật riêng điều chỉnh (Luật cán bộ, công chức, Luật viên chức). Các luật riêng này sẽ có những quy định riêng đối với cán bộ, công chức, viên chức; đồng thời sẽ dẫn chiếu đến việc áp dụng Bộ luật lao động đối với các chế độ, chính sách không có gì khác biệt so với người làm việc theo hợp đồng lao động. Cách quy định như vậy là hợp lý và bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.

Tuy nhiên, đến khi quy định về “tuổi đời hưởng lương hưu”, dự thảo lại có quy định riêng đối với cán bộ, công chức, viên chức là các đối tượng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật. Đây là vấn đề không hợp lý, không bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.

Ở góc độ khác, cũng phải nhận thấy rằng vấn đề “tuổi đời hưởng lương hưu” là vấn đề phải được xem xét một cách tổng thể không chỉ đối với cán bộ, công chức, viên chức mà cả những người lao động nói chung khác. Do đó có thể khi xây dựng các luật riêng về cán bộ, công chức, viên chức thì vấn đề này chưa đủ điều kiện để bàn tới. Nay, chúng ta đã xem xét một cách tổng thể việc sửa đổi Bộ luật thì cần phải bàn tới vấn đề này.

Giải pháp cho vấn đề, xin đề xuất:

- Bộ luật lao động (sửa đổi) không quy định về cán bộ, công chức, viên chức.

- Khi thông qua Bộ luật lao động (sửa đổi) thì đồng thời thông qua một Luật sửa đổi nhiều luật: Luật sửa đổi, bổ sung điều 60 Luật cán bộ, công chức và điều 46 Luật viên chức.

Về tính minh bạch, rõ ràng của quy định

Hiện nay Bộ luật lao động hiện hành và các văn bản pháp luật khác đều quy định theo hướng nêu về quyền hưởng chế độ hưu trí khi người lao động đạt một độ tuổi nhất định. Dự thảo Bộ luật tiếp tục quy định theo hướng này.

Tuy nhiên, trên thực tế nhiều người lại muốn tiếp tục làm việc sau độ tuổi này và vấn đề là họ phải nghỉ khi đạt độ tuổi được quy định. Ở đây pháp luật còn quy định chưa thật rõ ràng, minh bạch khi đồng nghĩa: “độ tuổi được hưởng chế độ hưu trí” với “độ tuổi phải về hưu”. Người lao động với độ tuổi thấp hơn quy định (nam chưa đủ 60; nữ chưa đủ 55 có kèm theo một số điều kiện khác) cũng có quyền hưởng chế độ hưu trí; nhưng trong trường hợp này quy định của pháp luật lại không được hiểu theo nghĩa “quyền hưởng chế độ hưu trí” cũng là “độ tuổi phải về hưu”. Như vậy, dẫn đến cách hiểu không thống nhất giữa các quy định của pháp luật. Ngoài ra, chế độ hưu trí cũng chỉ là một trong các chế độ bảo hiểm xã hội. Người lao động có quyền hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội khác và các quyền khác như: chế độ thai sản; nghỉ ngày lễ, ngày tết…Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là  người lao động bắt buộc phải nghỉ trong thời gian nuôi con nhỏ hoặc không được làm việc trong ngày lễ, ngày tết…

Về nội dung của quy định

Đây là một vấn đề quan trọng có tác động kinh tế, xã hội sâu sắc, do đó việc xây dựng các phương án về vấn đề này phải tiến hành thận trọng, bảo đảm cho quy định phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân; đồng thời bảo đảm tính hiệu quả, hợp lý, tính khả thi và tính đồng bộ trong hệ thống chính sách, pháp luật của nước ta. Vì vậy, khi xây dựng các phương án cần chú ý tới 2 vấn đề sau đây:

- Lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động của quy định (nên có sự phân loại các đối tượng lấy ý kiến; cả đối tượng chị sự tác động trực tiếp và gián tiếp) nhằm bảo đảm cho quy định của pháp luật phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

- Đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng Báo cáo đánh giá tác động của các phương án (báo cáo cần làm thực chất; tránh tính hình thức, làm để cho đủ hồ sơ trình Quốc hội), trong đó lưu ý:

            - Phân loại rõ các loại đối tượng khác nhau sẽ chịu tác động của chính  sách:

            + Người lao động theo hợp đồng lao động

            + Cán bộ, công chức, viên chức: cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý; không lãnh đạo, quản lý …

            + Người lao động, cán bộ, công chức, viên chức thuộc các nghành nghề và tính chất công việc khác nhau như: độc hại, nguy hiểm; kỹ thuật cao…

            - Phân tích các tác động tới kinh tế, xã hội, môi trường; tác động tới quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; tới hệ thống pháp luật và khả năng tuân thủ quy định của các đối tượng:

            + Về nguồn lực lao động: cơ hội có việc làm của giới trẻ (ví dụ:  những năm trước đây, khi Chính phủ Pháp dự định tăng tuổi nghỉ hưu đã gây nên tình trạng biểu tình, đình công ở Pháp …); vấn đề sử dụng trí tuệ, kinh nghiệm của người lao động …;

            + Vấn đề liên quan tới bảo đảm an toàn quỹ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế;

            + Vấn đề Ngân sách Nhà nước liên quan tới quỹ lương; vấn đề giảm biên chế bộ máy hành chính…;

            + Vấn đề liên quan tới y tế, sức khỏe; đời sống văn hóa, xã hội của người nghỉ hưu;

            + Vấn đề liên quan tới bình đẳng giới, bảo đảm công bằng xã hội; quan hệ quốc tế…

            + Vấn đề liên quan tới bảo đảm tính minh bạch, chất lượng của hệ thống pháp luật…

            - Xác định các tác động theo định tính, định lượng; vấn đề chi phí và lợi ích của từng phương án để từ đó có phương án hiệu quả, hợp lý nhất.
Mạnh Cường

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK