Sử dụng quyền và thực hiện nhiệm vụ của Đại biểu Quốc hội
Cập nhật : 18:21 - 04/07/2011

Vừa qua, Hội đồng bầu cử đã công bố danh sách 500 người trúng cử đại biểu Quốc hội và chỉ qua một bước thẩm tra tư cách đại biểu tại kỳ họp thứ nhất là chính thức trở thành đại biểu Quốc hội- đại diện cho ý chí và nguyện vọng của cử tri cả nước trong cơ quan quyền lực cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam.

Để đáp ứng sự tin cậy đó của nhân dân, đại biểu Quốc hội phải sử dụng tốt quyền hạn và thực hiện có kết quả nhiệm vụ được giao trong suốt nhiệm kỳ 5 năm với những hoạt động liên tục cả trong và ngoài các kỳ họp.

Điều cần quan tâm là đại biểu Quốc hội sẽ thực thi quyền hạn và bổn phận của mình như thế nào để làm tròn vai trò của người đại diện của nhân dân, người được cử tri uỷ quyền trong các hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.

 Vị thế pháp lý của ĐBQH:

Vị thế pháp lý của ĐBQH dựa trên ba yếu tố chính: Sự uỷ quyền của cử tri; Tính độc lập của từng đại biểu và Sự bình đẳng giữa các đại biểu.

Sự uỷ quyền của cử tri là cơ sở pháp lý để ĐBQH thực thi quyền và trách nhiệm của mình tại cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. ĐBQH được bầu ở một đơn vị bầu cử, nhưng không chỉ đại diện cho cử tri ở đơn vị đó mà còn đại diện cho ý chí của toàn thể nhân dân cả nước. Sự uỷ quyền có thể bị thu hồi khi đại biểu "không còn xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân" theo một trình tự, thủ tục luật định.

Sự độc lập: ĐBQH khi thực hiện vai trò đại diện của mình có quyền độc lập quyết định trong các hoạt động của Quốc hội và ĐBQH nhằm đảm bảo lợi ích quốc gia và lợi ích của cử tri, không chịu một sự tác động hoặc can thiệp nào trái với khuôn khổ pháp luật

Mọi ĐBQH từ các vị lãnh đạo chủ chốt của Quốc hội, các UB và HĐDT, lãnh đạo Đảng và Chính phủ đến đại biểu thường đều bình đẳng như nhau trong mọi hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định. Mỗi đại biểu nắm giữ một lá phiếu có giá trị ngang bằng với mọi đại biểu khác.

Các quyền của ĐBQH và cách thực thi quyền của ĐBQH:

Các quyền của ĐBQH đã được quy định rõ trong Luật tổ chức Quốc hội, đó là quyền tham gia các hoạt động lập pháp (quyền trình dự án luật; kiến nghị về luật, thảo luận và biểu quyết thông qua các dự án luật, các nghị quyết); quyền tham gia các hoạt động giám sát (giám sát VBQPPL; giám sát việc thi hành PL; giám sát việc giải quyết KN,TC của công dân; chất vấn...) và quyền tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước cả về đối nội và đối ngoại (thảo luận và biểu quyết về nhiệm vụ phát triển KT-XH; kế hoạch ngân sách; các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia; những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân; thảo luận và biểu quyết về các điều ước quốc tế..).

Để thực hiện tốt quyền của mình về lập pháp theo luật định, ĐBQH phải hiểu rõ quan niệm về lập pháp và vai trò lập pháp của Quốc hội; nắm vững qui trình, thủ tục lập pháp được cụ thể hoá trong Luật ban hành các văn bản qui phạm pháp luật năm 2008; làm tốt việc thu thập và xử lý thông tin, trong đó quan trọng nhất là biết cách tiếp cận các dự thảo luật và tổ chức tham vấn công chúng để có thông tin cần thiết, trước hết từ những đối tượng chịu tác động của chính sách. Từ đó xây dựng luận cứ vững chắc và vận dụng các kỹ năng khác để tham gia tranh luận, thảo luận tại các diễn đàn của Quốc hội trước khi biểu quyết thông qua các dự án luật hoặc nêu kiến nghị lập pháp để Quốc hội và các cơ quan Quốc hội xem xét quyết định.

 ĐBQH tham gia hoạt động lập pháp có thể thông qua các cơ quan của Quốc hội mà mình là thành viên nhưng cần đề cao tính độc lập của cá nhân trong quá trình nghiên cứu; phân tích, đánh giá các vấn đề lập pháp và nên đi sâu hơn vào các lĩnh vực mà mình có thế mạnh hoặc thuận lợi hơn trong việc tiếp cận.

 Để thực hiện quyền giám sát, ĐBQH cũng phải hiểu rõ vai trò, chức năng giám sát của Quốc hội; tính chất "tối cao" và phạm vi bao trùm của hoạt động giám sát của Quốc hội; xác định đúng chủ thể giám sát (của Quốc hội tại kỳ họp; của các cơ quan Quốc hội và đại biểu Quốc hội ngoài các kỳ họp); biết cách lập kế hoạch giám sát; huy động lực lượng tham gia và lựa chọn phương thức giám sát phù hợp (lập đoàn giám sát; chất vấn, kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm, thành lập UB điều tra; xem xét báo cáo công tác và các báo cáo chuyên đề...). ĐBQH có thể thực hiện giám sát theo chương trình cá nhân hoặc tham gia hoạt động theo yêu cầu của UBTVQH; Các UB và HĐDT; của Đoàn ĐBQH.. Muốn thực hiện có kết quả hoạt động giám sát, ĐBQH cũng phải nắm vững qui trình, thủ tục, các bước tiến hành giám sát và một số kỹ năng cần thiết để phát hiện những vấn đề có tầm chính sách và làm rõ được trách nhiệm của các tổ chức , cá nhân liên quan.

           Đối với vai trò, chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, việc tham gia của ĐBQH vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội; kế hoạch ngân sách thường chiếm nhiều thời gian nhưng cũng có nhiều thuận lợi để tiếp cận chính sách quốc gia từ các góc độ khác nhau. Để tham gia các quyết định, ĐBQH cần dành thời gian nghiên cứu dự thảo do các cơ quan Chính phủ trình, báo cáo thẩm tra của HĐDT và các UB; nêu yêu cầu để được các đơn vị liên quan giải trình hoặc cung cấp thêm thông tin; chủ động tham vấn chuyên gia; gặp gỡ các đối tượng chịu tác động. Do bản thân đại biểu thường chỉ có kinh nghiệm chuyên sâu về một vài lĩnh vực nên cần ưu tiên nghiên cứu các vấn đề chính sách" nổi cộm" của quốc gia hoặc của địa phương; đã và đang gây bức xúc rộng rãi trong quần chúng hoặc những vấn đề mà với năng lực chuyên môn của mình có thể phân tích để tham gia thảo luận và quyết định.( Ví dụ: Các giải pháp kiềm chế lạm phát và đảm bảo tăng trưởng bền vững; Vấn đề bảo vệ tài nguyên, môi trường..)

Về tài chính ngân sách, nhiệm kỳ này nên chú ý hơn các chính sách trung, dài hạn; sử dụng quyền của đại biểu để tìm hiểu kỹ hơn về chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; vấn đề quản lý nợ công; cơ chế quản lý tài sản nhà nước tại các doanh nghiêp, nhất là ở các tập đoàn kinh tế. Đồng thời cần tìm hiểu kỹ các tiêu chí phân bổ ngân sách cho các ngành và địa phương trong thời kỳ ổn định 3-5 năm..

 Về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, quyền của Đại biểu Quốc hội cần được phát huy ngay từ kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá 13 trong việc lựa chọn bầu cử bộ máy lãnh đạo của Nhà nước gồm Chủ tịch nước, Phó chủ tịch nước; chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội; Thủ tướng Chínhphur và các thành viên Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước...

Trách nhiệm của ĐBQH và cách thực thi trách nhiệm của ĐBQH:

Nội dung này cũng được qui định cụ thể trong Luật tổ chức Quốc hội và các văn bản QPPL khác. Trong đó nhiệm vụ quan trọng nhất là phải liên hệ chặt chẽ và chịu sự giám sát của cử tri (TXCT định kỳ, báo cáo kết quả hoạt động trước cử tri; tiếp công dân; tiếp nhận và đôn đốc giải quyết khiếu nại, tố cáo và các kiến nghị của công dân; tham vấn ý kiến nhân dân trong quá trình triển khai các hoạt động lập pháp giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng); tham gia các hoạt động chung của Quốc hội (họp phiên toàn thể và các cuộc họp của Tổ đại biểu, Đoàn ĐBQH) và hoạt động của các cơ quan Quốc hội mà mình là thành viên hoặc khi được mời (Hoạt động tại các UB, HĐDT, Đoàn ĐBQH; các Đoàn giám sát...).

 Việc thực thi trách nhiệm, trước hết tuỳ thuộc vào sự nỗ lực của từng ĐBQH, tinh thần khắc phục khó khăn để chủ động đề ra và thực hiện tốt kế hoạch hoạt động cá nhân cũng như đóng góp có kết quả vào hoạt động chung của Quốc hội và các cơ quan Quốc hội mà mình là thành viên hoặc được mời tham dự. Đồng thời còn phụ thuộc vào sự quan tâm sắp xếp, tạo điều kiện của đơn vị và địa phương nơi đại biểu làm việc hoặc sinh sống. Do đặc điểm Quốc hội nước ta có hơn 70% đại biểu kiêm nhiêm nên ít nhiều có sự khác nhau trong hoạt động giữa đại biểu chuyên trách và đại biểu không chuyên trách.

ĐBQH chuyên trách phải dành 100% thời gian cho hoạt động của Quốc hội, ngoài trách nhiệm chung đối với cử tri còn phải thực thi chức trách, nhiệm vụ theo sự phân công và tuân thủ các thủ tục của cơ quan Quốc hội mà mình là thành viên. Đại biểu Quốc hội chuyên trách ở Trung ương và ở địa phương còn hoạt động theo qui chế và tổ chức của các Đoàn ĐBQH; tham gia các hoạt động do các cơ quan của Quốc hội triệu tập theo kế hoạch chung.

ĐBQH không chuyên trách có thể là thành viên kiêm nhiệm của HĐDT và các UB, cũng có thể không đảm nhận một nhiệm vụ chuyên trách trong Quốc hội mà vẫn hoạt động nghề nghiệp hoặc đảm nhận các chức vụ, vị trí không phải thuộc Quốc hội.

ĐBQH kiêm nhiệm ngoài trách nhiệm chung đối với cử tri, còn phải thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Đoàn ĐBQH và tuân thủ nội qui, thủ tục của cơ quan Quốc hội mà mình là thành viên hoặc các hoạt động khác của Quốc hội mà mình tham gia.

Để hoàn thành nhiệm vụ, ĐBQH kiêm nhiệm cần:

+ Tránh thoái thác nhiệm vụ Quốc hội vì lý do bận công việc thường xuyên trong lúc có các giải pháp khắc phục được.

+ Không chỉ dành ít nhất 1/3 quĩ thời gian làm việc của mình cho hoạt động Quốc hội vì như vậy chỉ đủ cho các kỳ họp hàng năm và việc tiếp xúc cử tri định kỳ. Phải gắn việc thực hiện chức trách của ĐBQH với công việc thường xuyên nhưng phải "phân vai " rõ ràng; không để xảy ra xung đột giữa lợi ích ngành, địa phương với lợi ích quốc gia và tránh gây phương hại đến lợi ích chính đáng của cử tri.

            Về vị thế, quyền và trách nhiệm của ĐBQH có một số điểm cần lưu ý:

Khi thực hiện nhiệm vụ, ĐBQH có một số đặc quyền: quyền miễn trừ (không bị bắt giam, truy tố, khám xét nơi ở và nơi làm viêc khi chưa có sự đồng ý của Quốc hội khi đang kỳ họp , hoặc sự đồng ý của UBTVQH  trong thời gian Quốc hội không họp ); quyền không bị cơ quan, đơn vị nơi đại biểu làm việc cách chức, buộc thôi việc khi không được UBTVQH đồng ý. Riêng việc bảo vệ đại biểu không bị kiện hoặc khởi tố khi thực hiện quyền tự do phát biểu ở Quốc hội nước ta chưa có những qui định cụ thể như ở Quốc hội một số nước.

Trong thực tế, việc đảm bảo thực hiện vị thế, quyền và trách nhiệm của các ĐBQH không hoàn toàn bình đẳng như mong muốn do có sự khác nhau về sự kế thừa năng lực thể chế; về môi trường làm việc ( ở các cơ quan Trung ương và ở địa phương ); về quĩ thời gian tham gia các hoạt động Quốc hội ( giữa đại biểu chuyên trách và kiêm nhiệm ); tầm ảnh hưởng của chức trách đang đảm nhiệm ...

Quyền bình đẳng giữa các ĐBQH đòi hỏi cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của đại biểu. Mặt khác, từng đại biểu cũng cần có sự nỗ lực cao nhất để chủ động khắc phục những nhân tố bất lợi và phát huy tốt năng lực của mình, thông qua thực tiễn hoạt động Quốc hội và công tác bồi dưỡng, đào tạo.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK