Bộ máy tham mưu giúp việc của Quốc hội qua các thời kỳ
Cập nhật : 10:57 - 30/06/2011
Sơ đồ tổ chức bộ máy của Văn phòng Quốc hộiSơ đồ tổ chức bộ máy của Văn phòng Quốc hội

Lịch sử của Quốc hội Việt Nam từ năm 1946 cho tới nay là lịch sử của Quốc hội hoạt động theo kỳ họp và đa số các đại biểu Quốc hội hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm. Đặc điểm này, một mặt xuất phát từ lịch sử hình thành và phát triển của Quốc hội nước ta, nhưng mặt cơ bản là xuất phát từ nguyên lý tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo nguyên tắc tập trung, thống nhất quyền lực. Quốc hội nơi thể hiện tập trung quyền lực nhà nước thì cơ cấu của Quốc hội nhất thiết phải bao gồm các đại biểu ưu tú nhất của các ngành, các cấp, các cơ quan, tổ chức từ trung ương tới địa phương thuộc mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Có như vậy mới bảo đảm cho Quốc hội thực hiện được những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cực kỳ quan trọng trong việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp; làm luật, sửa đổi luật; quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Từ đó có thể thấy trong số các đại biểu Quốc hội có thể là công chức trong các cơ quan hành pháp, tư pháp có thể là đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu trong các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, xã hội, đại biểu thuộc các đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức kinh tế. Những người này theo nguyên lý của Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phải luôn gắn bó chặt chẽ với đời sống lao động, sản xuất của nhân dân, kịp thời nắm tâm tư nguyện vọng của nhân dân để góp phần vào việc thảo luận và quyết định các công việc chung của đất nước. Tuy nhiên, đặc điểm chung nổi bật của các đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm là họ không làm việc thường xuyên tại Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, nhiệm vụ chính của họ không phải duy nhất làm nhiệm vụ đại biểu, càng không phải thường xuyên chuyên nghiệp làm công tác thẩm tra, giám sát hoặc cho ý kiến, thảo luận về các dự án luật mà là đảm nhiệm phần chính công việc tại cơ quan, tổ chức, địa phương, đơn vị nơi họ đang hàng ngày công tác.

Đối với đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách thì tính chất hoạt động khác với hoạt động của công chức, đó là hoạt động mang tính chất đại diện, tham gia hoạch định các vấn đề thuộc chính sách, cơ chế, đường lối. Điều đáng lưu ý là về nguyên tắc đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách cũng vẫn chỉ theo nhiệm kỳ của Quốc hội; đặc điểm này khác với tính chất chuyên trách của một công chức. Qua hoạt động của các nhiệm kỳ Quốc hội khoá IX, X, XI, XII cho thấy thường chỉ tới năm thứ hai và thứ ba của nhiệm kỳ, các đại biểu Quốc hội mới bắt đầu thạo việc và có kinh nghiệm trong hoạt động tại Quốc hội.

Do hoạt động theo kỳ họp, nên một đặc điểm của Quốc hội nước ta cần được lưu ý khi thiết lập tổ chức bộ máy phục vụ, đó là Quốc hội tổ chức Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội hoạt động chuyên trách giữa hai kỳ họp, trong đó một nhiệm vụ rất quan trọng là việc chỉ đạo, điều hoà, đôn đốc, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội.

Bên cạnh Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội là cơ quan hoạt động thường xuyên của Quốc hội tại trung ương, Quốc hội còn thành lập các Đoàn đại biểu Quốc hội tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi để các đại biểu Quốc hội sinh hoạt, gắn bó tiếp xúc với cử tri nơi bầu ra mình. Phục vụ mỗi Đoàn đại biểu Quốc hội theo quyết định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội có tổ chức Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

 Cùng với Uỷ ban thường vụ Quốc hội được tổ chức bao gồm toàn thể các thành viên hoạt động theo chế độ chuyên trách tại Quốc hội, trong Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội hình thành bộ phận Thường trực gồm một số thành viên hoạt động theo chế độ chuyên trách tại Quốc hội để tổ chức, triển khai công việc của Hội đồng, Uỷ ban.

Những đặc điểm trên đây có ý nghĩa quyết định trong việc nghiên cứu để tổ chức bộ máy tham mưu giỳp việc phục vụ cho Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội.

Cùng với quá trình phát triển tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, bộ máy giúp việc của Quốc hội đã không ngừng hoàn thiện và phát triển với các tên gọi khác nhau:

Từ 1946 đến 1962 là Văn phòng Ban thường trực Quốc hội.

Từ 1962 đến 1981 là Văn phòng Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Từ 1981 đến 1992 là Văn phòng Quốc hội và Hội đồng nhà nước.

Từ 1992 đến nay là Văn phòng Quốc hội.

- Văn phòng Ban thường trực Quốc hội thời kỳ 1946 đến 1962

Văn phòng Ban thường trực Quốc hội do một số ít cán bộ văn phòng hợp thành để giúp Ban thường trực Quốc hội giải quyết các công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của Ban thường trực Quốc hội. Văn phòng chưa phải là một tổ chức có cơ cấu hoàn chỉnh gồm các Cục, Vụ, Phòng ban nhưng ngay thời kỳ đó chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng đã không chỉ phục vụ những vấn đề về hành chính, tạp vụ mà còn tham mưu giúp Ban thường trực Quốc hội giải quyết các vấn đề về đối nội và đối ngoại, phần nhiều trong số cán bộ của Văn phòng là các nhà trí thức, chuyên gia cao cấp có nhiều kinh nghiệm.

Từ năm 1950 cán bộ và nhân viên giúp việc Văn phòng chính thức được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Như vậy, ở từng mức độ khác nhau nhưng ngay từ khi được thành lập, Văn phòng Ban thường trực Quốc hội đã thực hiện hai chức năng cơ bản là tham mưu giúp việc về mặt chuyên môn và phục vụ hậu cần, tạp vụ, cấp dưỡng, cơ sở vật chất  cho Quốc hội.

- Văn phòng Uỷ ban thường vụ Quốc hội thời kỳ 1961 – 1981

Quốc hội thời kỳ này được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Quốc hội với việc tổ chức Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan thường trực của Quốc hội.

Ngày 16/1/1962 căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn quy định trong Hiến pháp 1959 và Luật tổ chức Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 87 NQ/TVQH về việc thành lập Văn phòng Uỷ ban thường vụ Quốc hội, trong đó quy định vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu Văn phòng Uỷ ban thường vụ Quốc hội gồm có 3 Vụ: Vụ Hành chính, Vụ pháp chính và Vụ dân chính và nhiều phòng, tổ công tác. Văn phòng do Tổng thư ký Uỷ ban thường vụ Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo; giúp việc Tổng thư ký có 03 Uỷ viên thư ký.

Chức năng cơ bản của Văn phòng thời kỳ này là tham mưu giúp việc toàn diện về mặt chuyên môn và phục vụ về mặt hành chính, hậu cần cơ sở vật chất không chỉ đối với công việc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội mà của cả Quốc hội, Uỷ ban dự án Pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban Kế hoạch và Ngân sách của Quốc hội.

Mô hình tổ chức Văn phòng Uỷ ban thường vụ Quốc hội thời kỳ này khá phức tạp.

Đứng đầu lãnh đạo Văn phòng là Tổng thư ký Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Tổng thư ký vừa là Nghị sĩ làm nhiệm vụ tại Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội vừa chịu trách nhiệm chung về công tác của Văn phòng.

Các thư ký vừa là Nghị sĩ vừa là người phụ trách các Vụ và phạm vi lĩnh vực công tác nhất định.

Đứng đầu lãnh đạo quản lý các Vụ là Vụ trưởng làm việc theo chế độ Thủ trưởng. Một số Vụ có tổ chức Phòng và có Trưởng, Phó phòng.

Trong thời kỳ này, mặc dù chỉ là các Vụ của Văn phòng Uỷ ban thường vụ Quốc hội, nhưng các đơn vị này có những nhiệm vụ như nhiệm vụ của một cơ quan của Quốc hội, chẳng hạn như: bảo đảm sự liên hệ thường xuyên giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội với các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân; chuẩn bị chương trình và tổ chức các cuộc họp của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các Uỷ ban của Quốc hội; dự thảo các dự án luật, pháp lệnh v.v…

Từ tháng 3/1974 đã có sự tách bạch giữa chức năng Tổng thư ký và Chủ nhiệm Văn phòng Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Chủ nhiệm Văn phòng Uỷ ban thường vụ Quốc hội là người giúp Tổng thư  ký Uỷ ban thường vụ Quốc hội quản lý và điều hành công việc của Văn phòng Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Như vậy, cùng với sự hoàn thiện bộ máy giúp việc của Quốc hội, cơ cấu chức danh trong Nghị viện (Quốc hội) đã dần được tách khỏi bộ máy Văn phòng.

- Văn phòng Quốc hội và Hội đồng nhà nước thời kỳ 1981 - 1992

Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội thời kỳ này được tổ chức và hoạt động trên cơ sở quy định của Hiến pháp 1980 và Luật tổ chức Quốc hội. Thời kỳ Quốc hội thống nhất trong cả nước với việc thiết lập chế định mới  là Hội đồng Nhà nước với tính chất vừa là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội, vừa là Chủ tịch tập thể nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ngày 6/7/1981 Hội đồng nhà nước ban hành Nghị quyết số 01/HĐNN7 quy định về tổ chức, nhiệm vụ của Văn phòng Quốc hội và Hội đồng nhà nước và xác định “Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước là cơ quan giúp việc của Quốc hội và Hội đồng nhà nước có trách nhiệm phục vụ mọi hoạt động của Hội đồng nhà nước, Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội”.

Chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng Quốc hội và Hội đồng nhà nước đã bao quát khá toàn diện trên các lĩnh vực tham mưu, phục vụ các hoạt động của Quốc hội về lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; về đối nội, đối ngoại và tổ chức bộ máy nhà nước. Lúc này cơ cấu tổ chức của Văn phòng Quốc hội và Hội đồng nhà nước được xây dựng thành một cơ quan hành chính với chức năng tham mưu giúp việc hoàn chỉnh bao gồm nhiều vụ và một số đơn vị cấp phòng. Điều đáng lưu ý là các Vụ chuyên môn với nhiệm vụ tham mưu trong việc hoạch định chính sách, pháp luật đã dần lớn mạnh như Vụ pháp luật, Vụ Hội đồng và các Uỷ ban, Vụ tổng hợp, Vụ hoạt động các đại biểu dân cử v.v… Chức danh Tổng thư ký Hội đồng nhà nước (tương tự như Tổng thư ký Uỷ ban thường vụ Quốc hội thời kỳ trước đây) vẫn được duy trì song song với chức danh Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, nhưng do một người nắm giữ, tới tháng 12/1987 thì được tách ra độc lập do hai người đảm nhiệm. Bên cạnh Tổng thư ký Hội đồng nhà nước, Hội đồng nhà nước đã bổ nhiệm một Uỷ viên Hội đồng nhà nước giữ chức vụ Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội và Hội đồng nhà nước. Văn phòng được tổ chức và hoạt động theo chế độ thủ trưởng, các Vụ chuyên môn có Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng đặt dưới sự lãnh đạo điều hành toàn diện của Chủ nhiệm Văn phòng và có chức năng, nhiệm vụ tham mưu khá độc lập.

Điều đáng lưu ý là về mô hình tổ chức Văn phòng trong giai đoạn này là Quốc hội đã bắt đầu có những đổi mới quan trọng, về cơ cấu, tổ chức.Bên cạnh Hội đồng nhà nước là cơ quan thường trực, hoạt động thường xuyên của Quốc hội thì còn có một số Uỷ ban của Quốc hội bắt đầu hình thành bộ phận Thường trực Uỷ ban làm việc theo chế độ chuyên trách tại Quốc hội như Uỷ ban pháp luật, Uỷ ban Kinh tế – Ngân sách. Các Vụ chuyên môn của Quốc hội như Vụ pháp luật, Vụ Hội đồng và các Uỷ ban có nhiệm vụ trực tiếp tham mưu phục vụ hoạt động của các Uỷ ban. Toàn bộ cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, cũng như tổ chức cán bộ của các vụ này do Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội và Hội đồng nhà nước quy định, lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành để đáp ứng các yêu cầu tham mưu phục vụ chuyên môn cho các Uỷ ban. Tuy nhiên, tới giữa nhiệm kỳ Quốc hội khoá VIII với việc hình thành bộ phận thường trực của một số Uỷ ban của Quốc hội thì công việc của các vụ chuyên môn thuộc Văn phòng Quốc hội và Hội đồng nhà nước không còn thuần tuý do Chủ nhiệm Văn phòng chỉ đạo nữa mà còn chịu sự chỉ đạo, điều hành của Chủ nhiệm, Thường trực Uỷ ban của Quốc hội. Như vậy, với sự xuất hiện của đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại một số Uỷ ban của Quốc hội thì mô hình tổ chức bộ máy tham mưu phục vụ Quốc hội nói chung và phục vụ Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội nói riêng bắt đầu đặt ra những vấn đề cần được nghiên cứu hoàn thiện để phúc đáp yêu cầu mới về tổ chức hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Bên cạnh sự chỉ đạo, lãnh đạo toàn diện của Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội và Hội đồng nhà nước đối với các Vụ chuyên môn, phục vụ các Uỷ ban của Quốc hội về các mặt chuyên môn, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, nâng lương, khen thưởng, kỷ luật, bố trí phân công công tác cán bộ thì tại các Vụ này đã bắt đầu xuất hiện cùng một lúc chịu sự chỉ đạo, phân công công tác song trùng của Chủ nhiệm và Thường trực Uỷ ban. Ranh giới phạm vi, chỉ đạo, điều hành của Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội và Thường trực Uỷ ban đối với vụ chuyên môn trong giai đoạn này là không rõ và do đó đã xuất hiện một số trường hợp lãnh đạo Văn phòng thì phân công cho cán bộ của Vụ chuyên môn công việc này, nhưng Thường trực Uỷ ban lại phân công công việc khác. Tính không thống nhất trong chỉ đạo các vụ chuyên môn phục vụ các Uỷ ban của Quốc hội bắt đầu xuất hiện tại đây.

- Văn phòng Quốc hội thời kỳ từ 1992 tới nay.

Hiến pháp 1992 ra đời, Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc đổi mới cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội. Đây là yếu tố quyết định đến việc củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy phục vụ hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Quốc hội bắt đầu hình thành đội ngũ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội (Điều 94 và Điều 95 Hiến pháp 1992). Uỷ ban thường vụ Quốc hội được thiết lập lại với tính chất là cơ quan thường trực của Quốc hội.

Để phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Quốc hội, ngày 17 tháng 10 năm 1992, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/UBTVQH quy định về tổ chức, nhiệm vụ của Văn phòng Quốc hội trong đó quy định rõ vị trí pháp lý, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc, thẩm quyền và cơ chế quản lý cán bộ.

Có thể nói Nghị quyết số 02/NQ-UBTVQH của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đánh dấu một mốc quan trọng trong việc nghiên cứu, hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy và chế độ làm việc của Văn phòng Quốc hội, nhất là đối với các vụ trực tiếp tham mưu phục vụ Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội về chuyên môn, mỗi Uỷ ban của Quốc hội  có một vụ thuộc cơ cấu của Văn phòng Quốc hội tham mưu, giúp việc. Các vụ này do Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực các Uỷ ban của Quốc hội chỉ đạo về công tác chuyên môn nghiệp vụ, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội chỉ đạo về các mặt công tác khác. Như vậy, đối với các vụ chuyên môn phục vụ Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban vẫn chịu sự song trùng lãnh đạo của Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực các Uỷ ban và Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội. Tổ chức, nhiệm vụ của các Vụ này do Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực các Uỷ ban của Quốc hội phối hợp với Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội quy định.

Tới nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI với 1/4 tổng số đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách thì phương thức hoạt động của Quốc hội, các Uỷ ban của Quốc hội đã có những thay đổi quan trọng. Số đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội tăng lên đáng kể. Trước yêu cầu của tình hình mới, căn cứ vào Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khoá X và Luật tổ chức Quốc hội, ngày 01/10/2003, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 417/2003/NQ-UBTVQH11 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Quốc hội thay thế cho Nghị quyết 02/NQ-UBTVQH9. Nghị quyết này của Uỷ ban thường vụ Quốc hội là sự tìm tòi một mô hình mới, nhằm phúc đáp yêu cầu đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Được xây dựng trên cơ sở tổng kết việc thực hiện và kế thừa các quy định của Nghị quyết 02/NQ-UBTVQH9 nhưng Nghị quyết 417 đã có sự thay đổi căn bản về mô hình tổ chức các vụ chuyên môn phục vụ Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội. Đây cũng là mô hình khá nhạy cảm về mặt chỉ đạo điều hành và phức tạp về mặt pháp lý,theo đó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội là người đứng đầu Văn phòng Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội về công tác của Văn phòng Quốc hội. Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực các Uỷ ban của Quốc hội chịu trách nhiệm trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội về công tác của Văn phòng Quốc hội đối với những vấn đề có liên quan (Điều 5). Tuy nhiên, tại Điều 7 lại quy định Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Uỷ ban của Quốc hội trực tiếp chỉ đạo các mặt công tác của các Vụ trực tiếp giúp việc Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội. Việc tuyển chọn cán bộ, công chức, bổ nhiệm, cách chức Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng và các chức vụ tương đương… đối với các Vụ trực tiếp giúp việc Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội do Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực các Uỷ ban phối hợp với Chủ nhiệm Văn phòng quyết định; Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội ra quyết định, Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực các Uỷ ban… phối hợp với Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội trong công tác quản lý và thực hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức thuộc các Vụ trực tiếp giúp việc Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội … v.v… Đây là các cơ chế, chế độ quản lý, chỉ đạo, điều hành rất mới nhưng cũng rất phức tạp của Nghị quyết 417/NQ-UBTVQH11 so với Nghị quyết 02/NQ-UBTVQH9. Một tìm kiếm mới về mô hình tổ chức, cơ chế làm việc, sự chỉ đạo, lãnh đạo, điều hành hoạt động của các Vụ tham mưu giúp việc Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội.

 
  • Ông Nguyễn Văn Tố Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (2/3/1946 - 8/11/1946)
  • Bà Nguyễn Thị Kim Ngân Chủ tịch Quốc hội khóa XIV (Từ ngày 31/3/2016)
  • Ông Bùi Bằng Đoàn Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (9/11/1946 - 13/4/1955)
  • Ông Tôn Đức Thắng Trưởng ban thường trực quốc hội khoá I (20/9/1955 - 15/7/1960)
  • Ông Trường Chinh Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI (15/7/1960 - 04/7/1981)
  • Ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội khoá VII (4/7/1981 – 18/6/1987)
  • Ông Lê Quang Đạo Chủ tịch Quốc hội khoá VIII (18/6/1987 – 23/9/1992)
  • Ông Nông Đức Mạnh Chủ tịch Quốc hội khoá IX, X (23/9/1992 – 27/6/2001)
  • Ông Nguyễn Văn An Chủ tịch Quốc hội khoá X, XI (27/6/2001 - 26/6/2006)
  • Ông Nguyễn Phú Trọng Chủ tịch Quốc hội XI, XII (27/6/2006 - 23/7/2011)
  • Ông Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (Từ 23/7/2011)

Quốc hội khóa XIV:


Tổng số đại biểu được bầu là 496 người (số liệu đến tháng 6/2018 là: 487 người);

- Đại biểu ở các cơ quan, tổ chức ởTrung ương: 182 người (tỷ lệ 36,70%);

- Đại biểu ở địa phương: 312 người (tỷ lệ 62,90%);

- Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số:86 người (tỷ lệ 17,30%);

- Đại biểu nữ: 133 người (tỷ lệ26,80%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 21người (tỷ lệ 4,20%);

- Đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi):71 người (tỷ lệ 14,30%);

- Đại biểu Quốc hội khóa tái cử: 160người (tỷ lệ 32,30%);

- Đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu:317 người (tỷ lệ 63,90%);

- Đại biểu có trình độ: Trên đại học:310 người (tỷ lệ 62,50%); đại học: 180 người (tỷ lệ 36,30%); dưới đại học: 6người (tỷ lệ 1,20%).

WEBLINK